CHƯƠNG 1
Ra khỏi sở cảnh sát, Bình cứ thẫn thờ. Bước đi
vô định. Đất dưới chân như muốn sụp xuống. Thời gian gần đây, cũng đôi
lần Bình có linh cảm điều chẳng lành sẽ đến ... Nhưng điều này hoàn toàn
Bình chưa hề nghĩ đến. Không hình dung nổi. Giá như còn ở nhà, bên cạnh
bố mẹ, Bình đã kệ. Đến đâu hay đó, hơi đâu phải lo, có gì đã có ông bà
"bô" rồi! Vừa đi vừa nghĩ, Bình chìm đắm trong những mông lung, không
định hướng. Có lẽ Bình đã bước, chân bước mà đầu chẳng biết sẽ đi đâu,
về đâu, nếu như bỗng nhiên Bình không nghe thấy tiếng gọi:
-
Bình đấy à? Cậu đi đâu thế này? Sao mặt xanh mày xám, không cắt nổi một
giọt máu thế kia? Mà áo khoác đâu? Mặc thế này không lạnh à?
Bình ngẩng lên, hóa ra Mai. Mai ở cùng tầng trong ký túc xá với Bình.
Cạnh phòng Mai là phòng Hạnh. Còn phòng Bình ở cuối dãy hành lang. Mai
và Hạnh đêề là sinh viên năm thứ hai của trường Đại Học Tổng Hợp thành
phố Rennes cách Paris chừng 500 kilômét. Mai học
Kinh tế, còn Hạnh học khoa Luật. Bình mới vào ở ký túc xá được mấy
tháng, nhưng đôi khi cũng nghe theo số bạn lười học vẫn hay đả kích hai
bạn gái chăm học này, nên ở gần nhau mà chẳng mấy quan hệ, gặp nhau ở
hành lang, cầu thang hay sân chơi tập thể thì cũng chỉ chào nhau lấy lệ
thế mà thôi.
- À, mình đi có chút việc ấy mà! Chẳng có gì cả! - Bình vội vàng chống chế cho qua chuyện.
Bình vừa nói vừa bỏ đi, mặc Mai cứ tưng hửng đứng đấy. Bình nói mà
chính Bình cũng không hiểu mình nói gì nữa, chẳng nhìn trực diện vào Mai…
° ° °
Cách đây một tuần, đang nằm xem ti vi tại nhà, Bình chợt nhớ ra đã đến
lúc phải đi làm thủ tục giấy tờ, xin gia hạn thẻ lưu trú. Những sinh
viên như Bình, dù là đang học tiếng hay đã là sinh viên các trường đại
học, học tự túc hay có học bổng. Sở Cảnh sát chỉ cấp cho một tấm thẻ,
dán vào hộ chiếu, có giá trị một năm. Một hay hai tháng, trước khi thẻ
lưu trú hết hạn, người sở hữu phải lo mà đi khai và làm lại.
Cũng như những lần trước, Bình phải thức dậy thật sớm, mặc dù Sở Cảnh
sát chỉ mở cửa vào 9 giờ sáng. Thường phải đến sớm bởi có rất đông người
xếp hàng rồng rắn ở ngoài trời. Bình uống quấy quá cốc sữa tươi rồi mặc
nhanh quần áo, chạy ra bến tàu điện ngầm. Ra khỏi nhà mới có 7 giờ
sáng, đến sở Cảnh sát là 8 giờ kém 15 phút, vậy mà đã có khoảng ba , bốn
trăm người đứng sẵn đó rồi. Dù đã trang bị đồ ấm khá kỹ, đôi bàn chân
và đôi bàn tay Bình cứ cóng cả lại. Bình đút cả hai tay vào túi áo
khoác. Còn đôi chân cứ cứng đơ đơ như mất hết cảm giác. Tập hồ sơ đành
kẹp vào nách.
Nhìn ai cũng cùng tâm
trạng như mình, muốn được đến lượt ngay, được giải quyết mà không bị
hạch sách điều gì, Bình bỗng thở dài ngao ngán. Đông như vậy mà hầu như
chẳng ai nói với ai, chỉ trừ khi họ đi đôi hay đi ba mà thôi. Nét mặt ai
cũng căng thẳng. Tội nghiệp nhất là cặp vợ chồng trẻ có con còn quá bé
mà cũng chẳng được ưu tiên lên xếp hàng trước, cũng chẳng đòi hỏi gì. Mẹ
đứng xếp hàng lâu, đứa bé mặc dầu được ủ chăn ấm và ngồi trong cái xắc
mẹ địu trên lưng, vẫn cựa quậy nhiều vì chắc khó chịu. Bé đưa mắt nhìn
mọi người xung quanh, dường như thấy toàn người lạ, bỗng bé khóc thét
lên. Mẹ bé nói với ngừơi đàn ông đứng bên cạnh, Bình đoán có lẽ là chồng
chị ta:
- Anh đứng xếp hàng đây, em cho con ra ngoài một lát.
Hai mẹ con đi đâu đó một lát rồi quay lại. Ngán ngẩm vì cửa vẫn đóng im
ỉm mà người đến xếp hàng vẫn từ đâu ùn ùn kéo tới. Phía dưới, hình như
có một người da đen đang thản nhiên vượt dòng người đi lên gần đến chỗ
Bình, chẳng ai nói gì, đột nhiên, một chị đứng ngay sát Bình phản ứng.
Lúc đầu Bình chẳng đế ý. Phần thì tính Bình chẳng thích quan tâm đến
những chuyện xảy ra xung quanhn không mấy liên lụy đến mình, phần thì
Bình đâu làm gì được với vốn tiếp Pháp ít ỏi của mình. Đứng trước Bình
và cặp vợ chồng trẻ nọ là hai cô sinh viên người Châu Á. Họ là người
nước nào, ngay từ đầu Bình không cố tìm hiểu. Bình nghĩ nếu họ không
phải là người Nhật, Hàn Quốc thì cũng là người Việt Nam, Trung Quốc hay
Thái Lan gì đó. Điều đó đối với Bình cũng chẳng có gì là quan trọng.
Trong khi đó hai cô gái này lại to nhỏ tỷ tê chuyện trên trời dứơi đất.
Chỉ một giây sau, Bình cũng biết đích xác họ là đồng bào của mình. Họ
cũng đi xin gia hạn thẻ lưu trú như mình chăng ? Bình tự hỏi nhưng không
chủ động bắt chuyện.
Hồi mới sang Pháp,
đi đường, trên tàu điện ngầm hay trên xe buýt, ở nơi công cộng, Bình
thỉnh thoảng bắt quen khi biết chắc đối tượng là người Việt Nam. Về sau,
Bình nghe một số người bảo rằng làm như vậy không có lợi, bởi nếu Bình
không may gặp phải những phần tử xấu vẫn thường đến quậy phá Đại sứ quán
Việt Nam tại Pháp vào những ngày lễ, tết Việt Nam, những dịp có các
đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam sang thăm chính thức nước Pháp, hay tiếp
xúc với những kẻ vẫn dán những khẩu hiệu đả kích Nhà nước Việt Nam vào
ngày "Quốc hận", họ sẽ gây rắc rối cho Bình. Thực ra, người mình cũng
hay phòng quá xa. Từ ngày sang đây, Bình chưa hề gặp "nạn" như thế bao
giờ. Bình đã từng được tiếp xúc với một số Việt kiều ở Pháp, từ những
cô bác lớn tuổi, những ông bà già phải xa đất nước từ những năm bốn mươi
hay năm mươi, đến các cô chú, anh chị ra đi sau năm bảy mươi nhăm, Bình
thấy phần lớn họ là những người tốt, thương yêu con cháu cộng đồng và
sẵn sàng giúp đỡ khi cần thiết. Hồi còn học ở Paris, Bình được cô Cúc
mời vào đại sứ quán Việt Nam tại Pháp dự Tết Việt Nam, được gặp các bác,
các cô chú Việt kiều ở đó, Bình thấy từ bác Đại sứ, bác phó Đại sứ cho
đến các nhân viên Đại sứ quán đều khen ngợi cộng đồng người Việt Nam tại
Pháp. Ở thành phố Bình ở, có vợ chồng một bác sỹ Việt kiều, vợ bác là
người Pháp, có hai vợ chồng đều là người Việt Nam, rất quý sinh viên
Việt Nam. Họ giúp đỡ sinh viên Việt Nam tận tình và thật vô tư.
Biết là vậy nhưng cũng có lúc Bình không chủ động bắt chuyện. Một trong
hai cô sinh viên Việt Nam kia vừa nói chuyện bằng tiếng Pháp với đôi vợ
chồng trẻ nọ, vừa giải thích lại cho bạn mình bằng tiếng Việt nên Bình
cũng loáng thoáng hiểu được người phụ nữ trẻ có đứa con mới hai tháng
tuổi ấy là người Argentina. Tiếng Tây Ban Nha là tiếng mẹ đẻ nhưng
chị ấy nói tiếng Pháp cũng rất tốt.
Sau
khi tốt nghiệp đại học ở xứ sở sương mù, không xin được việc, chị ấy
sang Pháp xin học tiếp và lập nghiệp tại đây . Sau ba năm, có bằng cử
nhân kế toán của Pháp, chị ấy xin được việc làm tại một công ty kinh
doanh bất động sản. Khi đã cầm trong tay bản hợp đồng vô thời hạn do
tổng giám đốc công ty này ký, chị đến Sở Cảnh sát để nộp hồ sơ, xin
chuyển giấy tờ từ chế độ sinh viên sang chế độ người làm công ăn lương.
Nhân viên tiếp chị hôm đó là một người phụ nữ trung tuổi, trông có vẻ dữ
dằn, khinh khỉnh. Cô nhân viên yêu cầu chị phải chứng minh đủ loại giấy
tờ, thời gian ở và học tập tại nước Anh, giấy phép vào nước Pháp … Do
bất cẩn, chị không còn giữ những giấy tờ đó nữa và cũng quan niệm rằng
khi mình đã được cấp thẻ lưu trú từng năm một rồi thì những giấy tờ kia
không còn cần thiết nữa. Thực ra chị ấy đã nhầm, bởi khi một người nước
ngoài tới sống và học tập hay công tác tại Pháp, những giấy tờ đã được
cấp dù không còn dùng hàng ngày nữa, vẫn phải giữ.
Hôm đó, chị ấy cãi dữ dội lắm, cho rằng mình sang Pháp đã ba năm, cần
gì phải trình những giấy tờ trước đó. Nhưng cô nhân viên lại nói rằng họ
cần phải biết chị đến Pháp bằng con đường nào và như thế nào. Kể ra, họ
nói cũng có lý. Nhưng nếu trước đó, không có giấy tờ đảm bảo làm sao
chị có thể làm được thủ tục vào Pháp bằng con đường chính. Nhưng pháp
luật là pháp luật. Cũng có khi người ta cố tình gây khó dễ làm cho đương
sự nản. Người nắm trong tay pháp luật cứ cứng nhắc chiếu theo pháp luật
mà làm, được hay không, họ không quan tâm. Chỉ khổ đương sự mà thôi.
Sau hôm đó, chị mệt mỏi, chán chướng, bỏ luôn, không đến Sở Cảnh sát một
lần nào nữa. Thế là những thàng ngày tiếp theo của chị trôi trong tình
trạng bất hợp pháp. Chị cũng không thể xin việc làm vì không có giấy tờ.
Mệt mỏi, chán chường, chị để mặc. Cũng chẳng hiểu ba năm đó chị sống ra
sao nữa. Giờ đây, khi kể lại câu chuyện của mình với hai cô gái Việt
Nam, chị vẫn còn ấm ức, mắt ứa lệ:
- Vậy là ba năm bỏ công học hành, thêm ba năm sống vất vưởng, tất cả coi như không được tính vào thời gian Pháp.
- Thì có sao đâu chị? Giờ chị có chồng quốc tịch Pháp, có con, chị lại làm được giấy tờ, chị cần gì cái thời gian ấy.
- Vậy là các em chưa hiểu. Một người nước ngoaài khi đến nhập cư tại
Pháp, thời gian liên tục quan trọng lắm. Bẵng đi ba năm không có giấy
tờ, coi như chị mất hẵn sáu năm. Giờ đây, được bảo lãnh, nhưng người ta
chỉ tính cho chị bắt đầu sống ở Pháp từ năm nay, con chị cũng vậy. Đúng
là ở đây, những người nhập cư hoàn cảnh như mình lắm lúc bị coi thường
lắm. Mình cần chứ họ đâu có cần nên cứ mỗi lần đến Sở Cảnh sát này, chị
thấy ngán đến tận cổ.
Người đàn ông đứng
bên cạnh chị, theo chị nói, lần đầu tiên đến xếp hàng ở đây mà đã thấy
ngán. Anh ấy chưa phải là chồng chị nhưng là bố của đứa bé.
Khi đến lượt mình, chỉ có chị và cháu bé vào xử lý công việc. Anh ấy
nói phải đi làm rồi trao cho chị quyển sổ hộ khẩu và những giấy tờ cần
thiết.
Tuy phải xếp hàng và chờ lâu như
vậy nhưng mọi người đều kiên nhẫn chờ đợi và tỏ ra lịch sự. Không có
chuyện chen lấn, cãi cọ hay chiếm chỗ …
9
giờ, cửa mở, mọi người cùng ồ lên một tiếng. Sung sướng là vậy , nhưng
có phải tất cả mọi người đều được vào phòng ngay đâu. Cứ đứng đấy! Mặc
lạnh lẽo! Mặc giá rét!
Tuyết vẫn lã
chã rơi. Trời âm u nhưng không mưa. Bình chợt nhìn lên. Những đám mây
màu chì đè nặng. Những cành cây trơ trụi lá. Mùa đông ở các nước châu Âu
thật rõ nét. Bỗng từ đâu, một con chim dẽ gà vụt bay tới trước mặt Bình
rồi vút lên ngọn cây, đạp mạnh, rồi lướt nhẹ giữa những cành cây. Vừa
xuất hiện được vài giây, chú chim đã đập đập cánh như muốn khoe cái mỏ
dài và thẳng của nó. Những người xếp hàng cạnh Bình nói với Bình, loại
chim đó thường chỉ gặp được một lần trong năm, vào giữa đông như thế này
thôi.
Mỗi lần mở cửa, cảnh sát chỉ ra
hiệu cho hai người được vào thôi. Ở phòng đầu tiên, người ta bắt đầu mở
túi xách, cặp, cởi áo khoác, v…v. để kiểm tra, đồng thời cho một cái máy
nhỏ cầm tay lướt lượt người. Thế rồi lượt của Bình cũngb đã đến. Bình
nhìn đồng hồ, đã 10 giờ 30 phút. Sau khi được kiểm tra người và đồ đạc
xong. Bình bước vào phòng thứ hai. Ơ đây, lại một lần nữa xếp hàng. Tuy
hiên, dù sốt ruột cũng cảm thấy dễ chịu hơn ở phía ngoài vì khí ấm của
căn phòng. Khi Bình lấy được cái tích kê nhỏ màu xanh để tiếp tục ngồi
vào ghế đợi, kim đồng hồ chỉ 11giờ. Từ đó cho đến khi Bình được gọi vào
bàn, được nhân viên tiếp, phải mất hơn một giờ đồng hồ nữa.
Lúc chờ gọi đến lượt. Bình thấy hai cô gái Việt Nam có vẻ lo lắng và hồi hộp.
Chắc đến 12 giờ trưa, nhân viên sẽ nghĩ, chúng mình phải chờ sang chiều
mất. Không những phải bỏ học buổi sáng mà là cả ngày. Một cô nói với
bạn mình.
Thấy sự lo lắng của hai cô gái,
Bình đoán chắc đây là lần đầu tiên họ đến Sở Cảnh sát làm thủ tục. Họ
cũng cùng cảnh ngộ như mình thôi. Bình nghĩ. Sau giây lát, Bình nói với
họ rằng ở đây nhân viên sẽ thay ca nhau, làm việc cho đến 16 giờ 30
phút, không nghỉ trưa. Nghe xong hai cô gái cảm ơn Bình Và thở phào nhẹ
nhõm.
Sau khi hai cô gái Việt Nam vào
bàn số 5. Cô nhân viên xem qua hồ sơ của Bình và nghe Bình trình bày.
Tuy không hiểu hết những gì Bình đang cố gắng nói nhưng cô nhân viên
cũng biết là Bình muốn xin gia hạn thẻ lưu trú. Nghe xong, cô ấy trả lại
hồ sơ cho Bình cùng với mảnh giấy ghi địa chỉ của Phòng Cảnh sát quận
nơi Bình ở. Bình cứ ngơ ngác… Cô ấy gải thích và Bình nghe được lõm bõm
là phải đến chỗ mới theo địa chỉ được ghi trên mảnh giấy vì lần này một
mặt Bình đã thay đổi chỗ ở, mặt khác Bình chưa có hẹn của Phòng Cảnh
sát quận. Theo nguyên tắc, Bình phải qua Phòng Cảnh sát quận, người ta
xem xét hồ sơ rồi mới hẹn ngày giờ cho Bình đến làm việc với Sở Cảnh
sát. Thấy Bình hiểu một cách khó khăn, cô nhân viên vừa nói rất chậm,
vừa cười khẩy. Cảm giác lẫn lộn khó tả xâm chiếm lòng Bình khi Bình phát
hiện ra chi tiết đó.
Ra khỏi Sở Cảnh
sát, Bình nhìn đồng hồ. Đã 1 giờ. Lại đến chỗ mới! Lại phải xếp hàng!
Mới nghĩ đến đó. Bình đã rùng mình sợ hãi. Nhưng không đi sao được? Ỷ
vào ai bây giờ? Chẳng ai có thể giúp Bình được nữa và Bình cũng không
muốn nhờ vã nữa.
Trước đây, do ngại tiếp
xúc vì vốn ngoại ngữ quá ít ỏi của mình, Bình nhớ Thái. Lần nào cũng có
Thái đi cùng. Thái là con trai cô Cúc, nhân viên một cơ quan đại diện
Việt Nam tại Paris. Vợ chồng cô Cúc quen biết bố Bình trong một dịp bố
Bình về Hà Nội họp, và từ đó đến nay họ vẫn giữ quan hệ. Chính vì có mối
quan hệ đó, Bình mới được gợi ý sang học tiếng Pháp ở Paris. Năm đầu,
có Thái giúp đỡ. Đến năm học thứ hai, khi thấy Bình không học được ở
Paris, cô Cúc lại tìm cách giúp Bình xin vê ềọc ở tỉnh. Cũng may cho
Bình, năm đó Thái cũng phải rời Paris về tỉnh để học, nên họ lại gặp
nhau. Thế là Bình lại tiếp tục ỷ vào Thái trong việc làm thủ tục, giấy
tờ.
Nghe Bình nói và nhìn cách giao tiếp
của Thái, cũng có lúc Bình, cũng có lúc Bình thấy thèm. Nhưng nỗi ao
ước ấy cũng có lúc Bình thấy thèm. Nhưng nỗi ao ước ấy cũng chỉ thoảng
qua thôi, rồi Bình lại bao biện cho mình : Anh Thái sang Pháp trước
Bình, lại có mẹ chăm sóc hàng ngày, lo cho mọi chuyện, nói tiếp Pháp tốt
hơn Bình là chuyện đương nhiên.
Cứ nghĩ một chiều như vậy để an ủi mình trong lúc này, Bình bước vội.
CHƯƠNG 2
Chân bước mà những ý nghĩ trong đầu đưa Bình
trở về với quá khứ. Những kỷ niệm xa xưa chẳng êm đềm gì lúc này cứ hiện
rõ lên mồn một.
Vào một buổi sáng mùa thu
trời đẹp. Mây nhởn nhơ bay trên bầu trời xanh. Cũng như các lớp trong
toàn trường phổ thông trung học Bình học, lớp 10D của Bình vừa khai
giảng năm học mới được một tháng. Khi tiếng trống trường gióng lên báo
hiệu buổi học kết thúc, các bạn chuẩn bị sách vở ra về. Bỗng thầy Cang,
hiệu trưởng của trường, bước vào, yêu cầu lớp ở lại họp. Đi sau thầy là
cô Lộc, giáo viên chủ nhiệm lớp Bình. Cả lớp ngạc nhiên không hiểu có
chuyện gì quan trọng. Hay là cô Thao, giáo viên dạy bộ môn sinh vật,
chuyển trường hay gia đình cô có chuyện gì đó. Vì tuần này tiết học của
cô để trống. Nhưng nếu chỉ có vậy thì việc gì phải họp lớp gấp gáp như
thế. Hơn nữa cũng không đến mức phải có sự hiện diện của cả cô Lộc và
thầy Cang.
Hoá
ra, trong buổi họp giáo viên toàn trường vừa rồi, cô Thao yêu cầu lớp
Bình phải họp để tìm ra thủ phạm đã bỏ một con chuột còn đỏ hỏn vào
trong cặp của cô trong giờ giảng và thực hành trên cơ thể chuột.
Về
đến nhà, theo thói quen, cô Thao mở cặp lấy chìa khoá mở cửa. Vừa mới
thò tay vào cặp, cô đụng phải một vật gì mềm mềm, nóng nóng. Cô giật
mình rút tay ra, đưa cặp lại gần cửa sổ hành lang nhìn cho rõ. Thì ối
giời! Một con chuột đỏ hỏn, đang mở đôi mắt bé xíu nhìn cô. Cô hoảng hồn
vứt cả cặp sách xuống đất, hét lên rồi ba chân bốn cẳng chạy xuống cầu
thang. May sao, có bác Thắm, hàng xóm ở căn hộ liền kề căn hộ của cô, ở
dưới cầu thang đi lên, đỡ không cho cô chạy tiếp, nếu không hậu quả thật
khôn lường.
Là
giáo viên dạy bộ môn sinh vật, cô Thao có nhiều cơ hội tiếp xúc với các
loài động vật khác nhau. Tuy nhiên không hiểu tại sao, con vật mà cô sợ
nhất lại là con chuột.
Theo
lời cô Thao kể, năm cô lên bảy tuổi, gia đình cô phải sơ tán về nông
thôn vì đế quốc Mỹ đã bắt đầu cuộc chiến tranh leo thang ra miền Bắc.
Gia đình cô gồm bốn người, được nhà chủ cho mượn một phòng rộng khoảng
mười tám mét vuông. Nhà ở chật chội, thêm vào đó là khí hậu ẩm thấp, đồ
đạc cũng dễ mốc, hỏng. Là một cô bé ngoan ngoãn, chăm chỉ việc nhà, cô
thường giúp bố mẹ dọn dẹp nhà cửa, sắp xếp lại tủ quần áo, giá sách…Một
hôm, cô lôi hết quần áo trong tủ ra để xếp lại. Vừa mới kéo được ít đồ
ra, cô bỗng hét lên hoảng hốt khi thấy một ổ chuột con, còn đỏ hỏn, nằm ở
góc tủ. Mẹ cô nghe tiếng kêu, chạy vào, thấy con gái nằm ngất lịm trên
sàn nhà.
Từ
đó, mỗi lần nhìn thấy chuột là cô Thao sợ. một nỗi ám ảnh, đeo đẳng đến
là khủng khiếp. Hồi còn là sinh viên, các bạn cô cũng đã một lần làm cô
suýt bị tai nạn khi nhảy từ giường tầng xuống đất, chỉ vì cô vừa mới
kéo ri đô để trèo lên giường, thì thấy một con chuột đỏ hỏn nằm chềnh
ềnh trên chiếc hòm gỗ đựng đồ đạc, quần áo được kê ở đầu giường để làm
bàn học, mở hai mắt nhỏ tí nhìn cô.
Trong giờ thực hành môn sinh vật tuần trước ở lớp Bình, có lẽ cô Thao
không đề phòng, đã kể ra chuyện đó nên học sinh nào đó đã nghịch ác.
Sau
cuộc họp lớp 10D, người ta chẳng mấy khó khăn tìm ra thủ phạm vụ đùa
tai ác trên. Chẳng ai khác ngoài Bình. Bình bị kỷ luật. Nhờ mẹ chạy
chọt, xin xỏ, Bình thoát, không bị nghỉ học buổi nào.
Nhưng
cũng từ đó, Bình trở nên thủ thế hơn, lỳ lợm hơn. Bình chẳng những
không tham gia xây dựng bài trên lớp mà khi thầy cô giáo gọi hỏi bài còn
trả lời qua loa cho xong chuyện hoặc nói lí nhí. Ở lớp, Bình chẳng chú ý
gì đến bài giảng, chẳng chịu ghi chép, về nhà, chẳng chịu học bài, làm
bài tập gì cả. Đến cuối năm học, Bình vẫn đủ điểm để lên lớp vì những
bài kiểm tra học kỳ và cuối năm đều đạt điểm. Càng lớn Bình càng ý thức
hơn sự can thiệp của bố mẹ trong việc "chạy" điểm, "chạy" tội cho anh em
Bình. Ỷ vào đó, Bình chẳng học mà cũng chẳng thấy lo. Dần dần Bình
chẳng những không sợ gì mà cũng chẳng sợ ai cả.
Lên
lớp mười một, Bình càng nhơn nhơn, coi thường tất cả. Trong số giáo
viên dạy lớp 11D của Bình, có thầy Khôi, giáo viên dạy môn vật lý, rất
nghiêm. Đã nhiều lần thầy cảnh cáo Bình về thái độ học tập trong lớp.
Thầy đưa trường hợp của Bình ra trong cuộc họp giáo viên, đề nghị cô
giáo chủ nhiệm cho họp lớp, kiểm điểm Bình. Nhưng không hiểu tại sao
Bình vẫn tồn tại ngang nhiên trong lớp.
Một
hôm trong giờ kiểm tra môn vật lý, thấy thái độ bất bình thường của
Bình, thầy Khôi đi ngay xuống chỗ Bình, lôi từ dưới cuốn vở kê bài viết
của Bình một tờ giấy ghi hết các công thức, dàn ý của bài giảng, cách
giảng các bài tập…
- Tại sao em lại làm như vậy? Em không biết đó là điều tối kỵ, không được phép ư?
………………
- Đề nghị em nộp bài và ra ngay khỏi lớp.
……………………
- Em có nghe tôi nói gì không?
Roạc…roạc… Trong
giây lát, bài kiểm tra của Bình chỉ còn là những mảnh giấy vụn, được
ném ngay trước mặt thầy Khôi và bay tả tơi xuống đất…
Học
sinh đang cắm cúi làm bài, không ai bảo ai, quay hết về chỗ Bình. -
Thật là hỗn xược hết chỗ nói! - một nữ sinh thì thầm với bạn ngồi cạnh -
Tại sao nó lại làm vậy nhỉ? An, người bạn chơi thân với Bình, lẩm bẩm.
Thầy Khôi giận tím mặt, đi thẳng về phía bảng, quay lại nói.
- Em hãy đi ra khỏi lớp và khi nào có ý kiến của thầy hiệu trưởng, em mới được trở lại giờ tôi!
Bình gườm gườm nhìn thầy, mặt lầm lì, đi ra khỏi lớp, vẻ thách thức.
Thầy
Khôi là một giáo viên dạy giỏi. Thầy vừa giỏi về chuyên môn, lại vừa
chuẩn mực về đạo đức, nghiêm khắc trong cuộc sống, trong giảng dạy và
trong mọi mối quan hệ. Những tiếng tốt về thầy không chỉ được biết đến
trong toàn trường, mà còn bay ra toàn huyện, toàn tỉnh. Thầy thường nói,
học giỏi mà không ngoan thì cũng chẳng thành người tử tế được, huống hồ
đã kém cỏi lại còn hỗn láo. Đồng nghiệp, phụ huynh học sinh và bản thân
các em học sinh rất quý nể thầy. Gửi con cho thầy, ai cũng yên tâm. Con
cái được học với thầy, hầu như phụ huynh nào cũng phấn khởi.
Với
uy tín của thầy Khôi như thế, tất cả các bạn ở lớp đều nghĩ, sau sự
việc đó, cánh cửa trường học đã khép lại đối với Bình. Bởi vì Bình không
chỉ phạm lỗi sao chép bài khi làm bài kiểm tra mà còn phạm phải lỗi mà
một người học sinh không dễ được tha thứ, đó là xúc phạm thầy với thái
độ xấc xược, coi thường.
Rồi cứ như vậy, Bình nhảy lên lớp 12D, không phải thi lại môn nào. Còn thầy giáo Khôi thì xin chuyển trường.
Nhưng
cũng chính vì vậy, năm cuối cùng ở trường phổ thông trung học, Bình bỏ
nhiều tiết học, có khi bỏ hắn cả buổi học, tụ tập một số bạn bè xấu. Đi
đến trường, Bình chẳng mang cặp, sách cũng không, chỉ có một quyển vở và
một cây bút nhét vào túi quần. Trước giờ vào lớp, nhóm của Bình tập
trung ở quán cà phê trước cổng trường, nói chuyện, hút thuốc, liên hồi
văng tục. Trong lớp, Bình vẫn tiếp tục gây ra không ít chuyện khó chịu
cho các thầy cô và bè bạn. Ở quê Bình, hầu hết các bạn đi đến lớp bằng
xe đạp, một số ít bạn ở gần trường thì đi bộ. Nhà Bình cách trường không
xa, nhưng ngày nào người ta cũng nhìn thấy Bình cưỡi một "con" Dream
mới cứng. Ai hỏi thì Bình trả lời trong nhà có vài ba "con" như vậy tội
gì không dùng.
Cuối
cùng kỳ thi tốt nghiệp phổ thông trung học cũng đã đến. Trong khi các
bạn mải miết ôn tập, Bình lại cùng mấy tay chơi ở lớp đàn đúm, la cà đến
các quán karaoke. Hầu hết học sinh lớp 12D đều nghĩ một cách chắc chắn
là Bình sẽ trượt thẳng cẳng kỳ thi cuối cấp, mặc dù bố mẹ Bình ngoài
việc ghi danh, đóng học phí cho Bình tất cả các buổi, các môn học thêm
do lớp tổ chức , còn nhờ giáo viên từng môn đến kèm Bình tận nhà. Bình
cũng có đến những buổi học thêm, cũng ngồi nhà chờ giáo viên đến dạy,
nhưng thực ra ngồi thì ngồi vậy chứ có con chữ con số nào lọt được vào
đầu Bình đâu.
Vậy
mà lại một lần nữa, các bạn Bình hết sức ngạc nhiên. Bình đã đỗ tốt
nghiệp, và kinh khủng hơn là đỗ loại khá. Điều đó khiến cho biết bao
người thắc mắc. Tuy nhiên, thắc mắc làm sao được? Có ai đó muốn kiện,
viết đơn rồi mời thanh tra huyện hay tỉnh kiểm tra thì cũng chẳng lần ra
được điều gì vì rõ ràng là Bình làm được bài, điểm bài thi của từng môn
được chấm đúng với đáp án. Không có một chỗ hở ở một công đoạn nào cả.
Rồi cũng như các cô, các cậu tân tú tài, Bình bắt đầu học ôn tiếp các môn để thi vào đại học.
Trước đó bốn tháng, khi làm hồ sơ thi vào đại học, Bình nghe bố nói:
- Làm trai thời này phải là kỹ sư công nghệ thông tin hay chí ít cũng là
cán bộ nghiên cứu đường lối phát triển kinh tế của đất nước mới oai con
ạ.
- Theo ông, thằng Bình nhà mình phải học
các môn khoa học tự nhiên à? Nó phải thi khối nào có ngoại ngữ ông ạ.
Và phải làm hồ sơ cho nó vào trường đại học nào đó bắt đầu bằng chữ
"ngoại" ấy, ông hiểu chưa? Sau này cứ phải là làm việc cho các công ty
nước ngoài. Tiền lương phải tính bằng đô la mới oách chứ - Mẹ Bình bảo.
- Bà này nói nghe buồn cười nhỉ? Khoa học thiên nhiên là gì?
- Là gì thì tôi chả biết, chỉ biết thi môn toán này, thi môn vật lý này
rồi cái môn gì nữa mà nghe nói cứ đến giờ thí nghiệm là toàn ngửi thấy
mùi bệnh viện…
- Thế thì bà phải gọi đó là các môn khoa học tự nhiên.
- À ra vậy. nghe nói trường Đại học ngoại thương lấy cả thí sinh khối D
nên thằng Bình thi vào đó được đây. Hơn nữa sau này ra trường dễ xin
việc. Ông quen nhiều các quan ở cái mảng đó.
- Bà thì biết gì mà nói cho nó ỷ lại. Khối D! Bà có biết nó phải thi
những môn gì không? Toán, văn, ngoại ngữ, bà nghe rõ chưa? Mà thằng Bình
có biết gì về tiếng Anh đâu.
- Ông khỏi
lo! Tôi sẽ thuê thầy dạy nó từ nay cho đến khi thi. Cả ba môn. Học từ
sáng đến tối. Bồi dưỡng cho thầy thật cao vào, có mánh nào là thầy sẽ
truyền cho nó hết.
- Bà tưởng cứ học suốt ngày mà nó tiêu hoá được hết kiến thức à?
- Ông nói cái gì? Tiêu hoá à! Nghe như tiêu hoá thức ăn, ghê quá! Mà này,
tôi nói cho ông nghe. Con mình từ lớp một cho đến lớp mười hai, có phải
đúp lại năm nào đâu. Mỗi năm lên một lớp. Thi tốt nghiệp cũng sẽ đỗ cho
ông xem. Nhất định kỳ thi này, tôi sẽ bồi dưỡng đủ các kiểu cho thầy và
trò. Mọi việc sẽ đâu vào đấy hết, ông khỏi lo!
Nghe
bố mẹ tranh luận, Bình cũng chưa hình dung ra hết mình sẽ được bồi
dưỡng những gì và tìm cách tiêu hoá kiến thức ra sao. Nó càu nhàu:
- Bố mẹ để cho con yên một tí có được không? Con lớn rồi. Nghe mãi những điệp khúc trên, con ngấy đến tận cổ.
- Con không phải nghĩ gì cả. Mẹ sẽ thu xếp hết. "Cá không ăn muối cá ươn, con cãi cha mẹ trăm đường con hư".
- Ối chà chà! Bà biết gì mà cũng tục với ngữ - Bố Bình nói chêm vào.
Vậy
là Bình chẳng được quyết định gì cả - Ừ thì thi vào Đại học Ngoại
thương vậy - Bình tự nhủ. Bình không phải làm gì, không phải động đến
một việc gì, kể cả việc khai hồ sơ. Mẹ Bình nhờ người làm tất. Được thể,
Bình ỷ lại, chẳng quan tâm gì.
° ° °
Một
buổi chiều hè trời oi bức. Cái nóng khủng khiếp kèm theo cái ẩm. Thật
khó chịu! Cả Bình và An đều bỏ buổi học thêm môn toán. Sau khi bước ra
khỏi quán karaoke, An hỏi Bình:
- Nguyện vọng một của cậu là trường nào?
- Cậu cứ hỏi bà "bô" tớ khắc biết - Bình trả lời.
- Thế còn nguyện vong hai?
- Tớ cũng chả biết nữa.
- Sao cậu thờ ơ với tương lai của mình đến vậy?
- Tớ đâu có được bàn bạc, ý kiến gì về việc đó. Chẳng ai hỏi ý kiến,
nguyện vọng gì của tớ cả, họ cứ tự ý làm. Mà tớ cũng quen rồi, thây kệ
đời!
An bỗng cười khành khạch:
- Ha…ha…! Hay thật đấy! Đời hay thật đấy! Mà cũng lạ thật đấy! Tục ngữ
có câu "công cha như núi Thái Sơn. Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy
ra". Câu này chỉ dừng đến đây thôi cậu ạ. Bố mẹ cậu đúng là lo và trang
bị cho cậu từ chân tơ đến kẽ tóc… Một cậu ấm thời hiện đại, cậu còn gì
phải than phiền nữa nào?
Đang thao thao bất tuyệt, bỗng nhiên An dừng lại, chạnh lòng nghĩ đến hoàn cảnh của mình…
Bước
sang lớp 12, An bắt đầu chơi thân với Bình. An hiểu Bình lắm chứ. Bình
có cá tính, không thích quá ỷ lại, nhanh nhẹn và khá thông minh. Bình có
khả năng học môn toán, môn lý, nhưng môn hoá thì bình thường. Nhưng do
không chịu học hành, Bình bị mất gốc, rơi rụng dần kiến thức thu lượm
được. Một điều An có thể khẳng định là Bình không thể học được ngoại
ngữ. Không những Bình không chịu học, mà có học cũng khó, vì môn đó cũng
như môn nhạc hay môn hoạ vậy, cần phải có năng khiếu mới giỏi được, nếu
không chỉ làng nhàng. Từ nhiều năm nay, đặc biệt từ khi bước vào trường
phổ thông trung học, trong khi các bạn cắm đầu cắm cổ học cũng còn thấy
thiếu thời gian vì bài vở nhiều, Bình vẫn nhởn nhơ. Nhiều thầy cô giáo
góp ý phê bình. Cô giáo chủ nhiệm cũng bất bình lắm. nhưng Bình cứ lì
ra. Vậy mà Bình vẫn lên lớp như ai! Trước đây An không hiểu mấy về những
trường hợp như Bình, như Lợi. Lợi cũng là bạn học cùng lớp với An và
Bình là con bà Nụ, trưởng phòng Tổ chức giáo dục và đào tạo của huyện.
Từ ngày chơi với nhóm của Bình, được Bình bao hết rồi không phải lao vào
chuyện học hành, thi cử, An nghĩ như vậy có lẽ sướng hơn chăng? Biết
thân phận mình, chẳng được như Bình, như Lợi..bố mẹ chẳng "lo" được gì,
An than thân trách phận rồi nói với Bình:
- Tớ cầm chắc là trượt đại học rồi. Bố tớ là thợ xây, nay đây mai đó. Mẹ
tớ suốt ngày ốm đau, chẳng lo gì được. tớ lại còn đứa em nữa. Con đường
học hành mà bố mẹ tớ chẳng có điều kiện để lo cho, tớ đành phải dừng.
Cậu thấy bọn lớp mình chẳng có đứa nào là không đi học thêm. Ngoài giờ
học chính quy trên lớp, chúng nó hầu như không còn một giờ nghỉ, trừ lúc
ăn và lúc ngủ thôi. Mà học thêm như vậy là phải có tiền. Mấy lần tớ
thấy thầy Uy dạy toán, cô Thiều dạy văn, nhìn tớ không mấy thiện cảm, tớ
đã đoán ra được điều gì rồi. Đúng, tớ là đứa học sinh lười học, không
làm bài đầy đủ, các thầy cô giáo ghét là phải. nhưng các thầy cô đâu
chịu hiểu lý do dẫn tớ tới tình cảnh ấy. Bố mẹ tớ chẳng bao giờ đến gặp
thầy cô cả. tớ không đi học thêm được một giờ nào cũng chính vì hoàn
cảnh. Mà rồi không ai chịu hiểu, tớ cũng cóc cần!
- Cậu được tự lập lại không có điều kiện để tự lập. Hơn nữa cậu không đủ
nghị lực, ý chí để tự lập. Còn tớ, chẳng ai để cho tớ tự lập cả. Đúng
như cậu nói, tớ được trang bị từ đầu đến chân. Đồng thời tớ bị nhồi đủ
mọi thứ, như một con thú giả bị nhồi bông vậy. Người ta thấy càng nhét
được nhiều càng tốt, bất cần biết cái da của nó có bị nứt chỗ nào không.
Từ ăn mặc đến học hành…
Bình đáp lời An, giọng có vẻ chua chát.
°
Một
buổi sáng, An cầm cái bay vốn của bố ra đầu nhà, trộn một ít xi măng,
cát nhào cùng với nước, thử xây mảng tường nhỏ bằng đống gạch để ngổn
ngang ngoài sân. Bỗng An nghe tiếng nước đổ tháo ra rất mạnh, rồi tiếng
rên rỉ của mẹ. An chạy ngay vào nhà. Bên cạnh chiếc giường mẹ An vẫn nằm
bấy lâu nay là một chậu máu. Mẹ An đang ôm bụng quằn quại. Bố không có
nhà, em Trang đi học. Làm sao bây giờ? Không còn nghĩ được điều gì hơn
nữa, An vội gọi bác Tung, chở xích lô ở đầu hẻm, đưa mẹ đi bệnh viện.
đến nếu, An được biết mẹ bị xuất huyết dạ dày do một khối u ẩn trong đó.
Không may lại là khối u ác tính, đã đến giai đoạn cuối.
Sau
đó An phải đạp xe đi xa hơn 50 kilomét mới báo được cho bố cái tin dữ
ấy. Ở cái thời đại mà các phương tiện thông tin, giao tiếp sẵn và tiện
biết bao nhiêu, mà An chẳng có cách nào khác là phải đạp xe như thế vì
nhà An không có điện thoại. cứ chìm vào hoàn cảnh của mình, nêN cô ũng
chẳng nghĩ ra là xin số điện thoại của nhà chủ chỗ bố xây dựng để nhờ
khi cần thiết. Lúc xểnh ra sự cố mới nghĩ ra.
Bố
An bỏ việc về ngay. Đó là lần đầu tiên An được gần bố thực sự, cũng là
lần đầu tiên An được nghe những lời tâm sự cuộc đời của bố mẹ, ước
nguyện của bố về hai anh em An. Người đàn ông trầm lặng, lạnh lùng và
khó gần đó hoá ra lại có trái tim nhân hậu lạ lùng. Chưa bao giờ An thấy
bố cười hay thể hiện tình cảm. Vậy mà lần đó, lần đầu tiên trong đời
mình, An thấy hai bên mắt của bố đọng lại những giọt nước mắt…Đó là khi
bố ngồi cầm tay mẹ trên giường bệnh. Cả tuần, mẹ không ăn được gì, chỉ
truyền nước biển. Mặt mẹ vốn đã hốc hác lại càng hốc hác, đôi mắt nhìn
đờ đẫn.
Hồi An còn nhỏ, mẹ cũng đã ốm yếu. Song đi đâu, An cũng thấy mọi người bảo mẹ An trước đây là hoa khôi của cái thị trấn này.
Bố
An kể, khi chiến tranh chống Mỹ xảy ra, gia đình mẹ An cũng như bao gia
đình khác phải đi sơ tán. Lúc đó mẹ An mới 8 tuổi, là ocn một nhưng mẹ
sống tự lập lắm. cuộc sống tuy khó khăn về mặt vật chất nhưng mẹ An được
lớn lên trong sự yêu thương và chiều chuộng của ông bà. Càng lớn mẹ An
càng xinh đẹp. Người dong dỏng cao. Khuôn mặt trái xoan. Ông ngoại An là
thiếu tá, sĩ quan công an nhân dân, công tác tại ty công an tỉnh. Trong
một lần đi công tác, xe chở ông cùng hai cán bộ khác bị trúng bom Mỹ.
Tất cả bốn người đi trên xe không ai sống sót. Bà ngoại An cũng là cán
bộ hậu cần của ty Công an, âm thầm chịu đựng nỗi đau mất mát để nuôi đứa
con gái vừa tốt nghiệp cấp 3. Cuối năm đó, khi mẹ An bước vào năm thứ
nhất của trường Đại học Sư phạm chưa được bao lâu, giặc Mỹ điên cuồng
ném bom toàn miền Bắc, hòng uy hiếp tinh thần của nhân dân ta một lần
nữa. thế rồi "hoạ đơn vô chí".
Hôm đó là
thứ bảy. Mẹ về thăm bà ngoại An. Đêm đến, đang ngon lành giấc ngủ, bỗng
máy bay Mỹ từ đâu ầm ầm kéo tới như một lũ quỷ gầm xé không trung. Pháo
sáng chăng đầy, sáng cả một góc trời. Những chiếc máy bay rà thấp ngỡ
sát ngọn tre như muốn nuốt chửng cả mấy trăm ngôi nhà vô tội. tiếng rú
động cơ máy bay, xen lẫn tiếng kẻng báo động, tiếng trẻ em khóc thét,
gào vì sợ, vì bị lôi dậy lúc nửa đêm. Rồi tiếng bom gầm, đạn réo. Mẹ An
chẳng còn nghe thấy gì nữa, chẳng biết gì nữa. Khi tỉnh dậy, mẹ mới biết
mình nằm trên giường bệnh ở một bệnh viện tỉnh. Một mảnh bom đã găm vào
bụng mẹ. Các bác sĩ mổ gắp mảnh bom ra và đau đớn cắt mất của mẹ quả
thận bên trái, cố giữ quả thận bên phải đã bị tổn thương. Mẹ hỏi thăm
tình hình bà ngoại An nhưng chẳng ai nói cho mẹ biết bà ra sao, cứ bảo
mẹ yên tâm điều trị. Lúc bình phục trở lại, mẹ mới nhận được tin đau
đớn. Trong trận oanh tạc ấy của Mỹ, hơn bốn mươi người chết trong đó có
bà ngoại của An, và khoảng trăm người bị thương. Ngôi nhà mà ông bà
ngoại An chắt chiu cả đời mới có được nát tan trong cái hố bom to tướng.
Mẹ
An đau buồn vô hạn. Vốn đã yếu lại càng ốm yếu hơn sau những nỗi đau
tưởng như không vượt qua được. Mẹ cố gắng học xong chương trình đại học
và sau khi tốt nghiệp xin về dạy ở trường cấp III huyện nhà.
Mẹ
An muốn về quê dạy học bởi vì nơi đó, bên cạnh những ngôi mộ của họ
hàng, có hai nấm mồ, dù bất động, cứ như hai cánh tay chìa đón, mở lòng
khi cháu con mình gặp khó khăn.
Nhưng hậu
quả của chiến tranh thật khôn lường. Mặc dù vết thương đã được mổ, sức
khoẻ của mẹ An cứ đuối dần. rồi mẹ cũng chẳng nghĩ đến việc lập gia đình
nữa, mặc dù có nhiều người tử tế đến đặt vấn đề. mẹ An đã chối từ tất
cả. nhưng rồi tình yêu - điều muôn thuở trong đời sống con người – lại
là điều gí đó thật khó cắt nghĩa. Tình yêu đến với mỗi người một kiểu và
nó cũng ra đi với mỗi trường hợp một cách khác nhau. Chẳng tình yêu nào
giống tình yêu nào cả!
Sau khi về quê dạy
học, mẹ An được nhà trường phân cho một gian nhà lá trong khu tập thể.
Cũng như các đồng nghiệp thời ấy, mẹ An chẳng quan tâm gì mấy đến việc
mình có hay không có cái gì. Thời đó, trong vô vàn khó khăn, vất vả đời
thường vẫn còn điều gì đó thật trong sáng, đẹp đẽ. Đó là cái thời mà
người ta còn cảm thấy hạnh phúc trong cái cảnh "một túp lều tranh, hai
trái tim vàng".
Một hôm, khu nhà lá của mẹ
An bị bốc hết mái sau một cơn bão. Trường phải thuê một tốp thợ ngoài
vào sửa sang giúp. Trong khi những tay thợ khác cười nói ầm ĩ, vừa làm
vừa văng tục, cứ như xung quanh họ chẳng có ai, một người đàn ông khoảng
ba mươi tuổi nhưng trông mặt vẫn còn trẻ, cứ lặng lẽ làm. Anh ta làm
không biết mệt hay sao ấy. Khi mọi người ngồi nghỉ uống nước hút thuốc,
vẫn thấy anh mải miết xếp gọn đống tranh tre nát. Anh nói với các bạn
đồng nghiệp của mình là hãy cố gắng làm nhanh để các thầy cô giáo chóng
có chỗ ở. Tínn tình trầm lặng, ít nói nhưng chăm chỉ, cẩn thận, chu
toàn, sự quan tâm tới mọi người, tới cuộc sống những người khác của anh
đã chạm vào cõi lòng sâu thẳm của mẹ An.
Càng
để ý, mẹ An càng thấy anh ta đúng là con người đáng kính. Cho đến ngày
cuối cùng, khi tốp thợ ra về gần hết, anh ta vẫn còn ở lại dọn dẹp và
xem thầy cô trong khi nhận lại các căn nhà của mình còn cần nhờ gì nữa
không. Mẹ An từ từ đến gần anh ta và bảo:
- Các anh thật nhiệt tình. Chúng tôi sớm có chỗ ở để ổn định công việc
cũng là nhờ công của các anh đó. Nếu không vội, mời anh vào nhà uống
chén nước chè.
Nghe tới đó, anh ta ngẩng
lên, trước mặt anh là một cô gái thật đẹp. ngoài những nét thanh tú trên
khuôn mặt, vẻ buồn thăm thẳm đọng trong đôi mắt đen láy, như muốn nói
với anh điều gì đó. Đôi mắt ấy làm anh nhớ đến vẻ đẹp của Đức Mẹ. Ôi,
một vẻ đẹp thánh thiện! nhưng sao cô ấy gầy quá, trông yếu quá! Có lẽ
phải cần một tấm lòng chân thành, đôi bàn tay đầy yêu thương chăm sóc
mới vực cho cô sức khoẻ lại được chăng? Ngẩn ngơ một lúc, anh như chợt
nhớ ra:
- À, cô bảo gì cơ?
- À, tôi muốn nói là nếu anh có chút thời gian, tôi mời anh chén nước.
- Cám ơn cô.
Vừa
nói anh ta vừa bước vào nhà. Nhìn thấy đống bàn thờ, ảnh thờ, sách vở
đồ đạc…chất đầy một góc, anh thấy ái ngại. Cám cảnh sức khoẻ của chủ
nhà, anh rất muốn giúp nhưng cứ ngần ngại, không nói nên lời.
- Mời anh xơi nước cho khỏi nguội! – mẹ An lại nói.
Một lần nữa anh ta lúng túng.
- Vâng, cảm ơn cô.
Khi ra đến cửa, anh ta nói nhẹ, đủ để hai người nghe thấy:
- Nếu cô không ngại, ngày mai, tôi sẽ ghé qua giúp cô dọn dẹp.
Chẳng
hiểu sao mẹ An đã đồng ý. Vừa sắp dọn đồ đạc, mẹ An vừa kể cho anh ta
nghe về cái chết của ông bà ngoại An, về vết thương của mình và về việc
muốn ở vậy để thờ bố mẹ mình.
Nhưng rồi ở đời vẫn vậy! Cái gì phải đến cuối cùng đã đến…
Sáu
tháng sau, lễ cưới được tiến hành. Nhà trường và các bạn đồng nghiệp
của hai bên giúp họ tổ chức một lễ tiệc ngọt giản dị, nhưng vô cùng ấm
cúng. Bên nhà nội cũng chẳng còn ai. Bố An nói, ông nội An chẳng may bị
chết vì tai nạn trong khi đi rừng, còn bà nội, sau đó mấy năm, lấy chồng
xa, ông này không đồng ý cho bà mang bố An theo cùng, vậy là bố An được
gửi vào một trại mồ côi.
Bốn năm sau, An
ra đời. sau khi An ra đời, bố An nhất quyết không muốn mẹ An sinh thêm
em nữa vì sức khoẻ của mẹ. nhưng sợ An buồn, không có anh có em như hoàn
cảnh cô đơn của mình, mẹ làm công tác tư tưởng cho bố. chẳng hiểu mẹ to
nhỏ thế nào mà đã làm cho bố xuôi lòng. Hai năm sau mẹ An sinh con gái,
đặt tên là Trang. Và rồi hai lần sinh đó, mẹ An gần như không còn sức
nữa, mẹ đã quỵ hẳn.
Khi An lên 10 tuổi,
Trang 8 tuổi, thì mẹ An không còn sức khoẻ để đứng lớp nữa, mẹ làm đơn
xin nghỉ việc. Nhà trường giải quyết cho ẹm An về hưu theo chế độ 176.
Từ đó, một mình bố An vật lộn với công việc của người thợ để nuôi cả gia
đình. Hai anh em An phải tự lực toàn bộ nhưng rất ngoan. Những năm học ở
trường phổ thông cơ sở, trường phổ thông trung học, năm nào An cũng đạt
danh hiệu học sinh giỏi hoặc chí ít cũng là học sinh tiên tiến.
Bố
An ngày càng trầm lặng. Có những đợt bố phải lên tận trên tỉnh để nhận
và làm công trình. Năm An bước vào trường phổ thông trung học, hầu như
An không mấy khi được tiếp xúc với bố. Bên cạnh là người mẹ dịu hiền,
tình cảm nhưng cứ ốm đau triền miên, An lại thấy buồn chán. Lẽ ra phải
thương xót mẹ, lo và chăm sóc mẹ như trước đây, nay An để mặc em gái. cứ
nghĩ mình đã là người lớn, An bỏ qua những lời than vãn, dặn dò của mẹ.
Đặc biệt từ ngày rớt vào nhóm của Bình, An không còn thiết tha gì đến
chuyện học hành nữa. Thay vào những lời khen ngợi An trước đây, các thầy
cô giáo nay chỉ còn biết ca thán, gửi giấy về gia đình An. Những điều
đó làm cho mẹ An phiền muộn thêm còn bố An đâu có thời gian để gặp gỡ
thầy cô giáo của An. Mà có gặp ông cũng có biết phải nói gì đâu. Cả đời
ông chỉ biết có lăn lưng ra làm từ sáng đến tối, mong kiếm được tiền đem
về thuốc men cho vợ và nuôi cả nhà mà thôi. tất cả tình thương yêu của
ông dành cho vợ con vốn ít được thể hiện ra ngoài, nay càng nén chặt vào
trong. Ông càng ít nói.
Thấy mấy đứa bạn
cùng lớp không học hành gì, vẫn đỗ đạt, vẫn sướng, chúng nó muốn cái gì
có nấy, An nghĩ đời thật bất công. Từ đó, An càng chán đời. Đã nhiều
lần, An tự nhủ là sẽ bỏ học, sẽ đi làm thợ như bố. Đời đã dành cho An
như vậy thì An cứ thế, việc gì mà học cho khổ.
°
Nhìn
những giọt nước mắt đọng trong khoé mắt bố, rồi từ từ chảy trên hai gò
má, An không cầm nổi lòng mình. Bố yêu thương mẹ thật sự! Cả đời bố chỉ
biết lăn vào công việc nhọc nhằn để lo cho vợ con. Bố không nói nhưng
tình cảm của bố mới lớn lao, đằm thắm làm sao. Sau này, cứ mỗi lần nghĩ
lại, chỉ còn đọng lại trong lòng An hình ảnh đó. Bàn tay sần sùi, chai
sạn, đen đúa của bố cứ nắm lấy bàn tay mảnh mai, nhỏ nhắn trắng xanh của
mẹ trong giờ phút mẹ hấp hối ấy. trước đây, An đã nhầm. Thấy thái độ
lạnh lùng và khô cứng của bố, rồi những năm An lớn lên hầu như hai bố
con chẳng tâm tình gì. An xa dần bố và mặc cảm. An đã nghĩ rằng bố chẳng
có chút tình cảm gì với mình và nếu có với mẹ và em Trang cũng chỉ là
những tình cảm nhạt nhẽo mà thôi. Giờ đây, điều có thật cứ hiện diện ra
trước mặt. Ẩn trong con người có vẻ cằn cỗi đó là cả một tấm lòng dịu
dàng, đầy yêu thương. Ẩn trong thân hình khô ráp đó là một trái tim nhân
hậu.
Xong đám tang mẹ, ba bố con An lầm
lũi trong căn nhà bé nhỏ. không khí vốn đã lặng lẽ lại càng lặng lẽ. Một
buổi tối, trước khi chuẩn bị để ngày mai đi theo công trình ở xa, bố
gọi an lại gần. Sau khi kể cho An nghe câu chuyện ngày xưa của bố mẹ An,
bố An nói, giọng trầm buồn, từ tốn.
Lâu
nay, bố không có dịp nào cảm thấy thích hợp để nói chuyện cùng con. Phần
thì quá bận, phần thì thấy mẹ con chẳng nói gì về tình hình của con năm
học vừa rồi nên bố cứ nghĩ mọi việc vẫn tốt đẹp như những năm học trước. Hoá ra mẹ con sợ bố buồn khi biết chuyện nên đã một mình ngậm đắng
nuốt cay, một mình chăm lo con cái để bố yên tâm với công việc của mình
như bao nhiêu năm nay, quyết tâm làm gì đó để giúp con nhưng bất lực vì
sức mẹ đã kiệt. Nay mẹ con không còn nữa, bố thấy bố thật vô tâm, thật
đáng trách. Bố rất ân hận nhưng mọi sự đã muộn mằn. Bố nghĩ rằng con đã
lớn, lại là con cả trong nhà, con nên biết mình phải làm gì để cuộc đời
sau này của mình đỡ khổ. Em Trang của con đã có ý thức về việc đó. Bố
không nghĩ là con lại thiếu nghị lực để có thể suy nghĩ thiếu nghiêm túc
về những điều con đã, đang và sẽ làm. Bố tuy nghèo nhưng bố sẽ cố gắng
để cho hai anh em con ăn học, có nghề nghiệp ổn định, thành người tử tế,
để vong linh mẹ con được yên bình nơi chín suối.
Bố
chỉ nói được bấy nhiêu thôi nhưng những lời nói tràn đầy tình cảm yêU
thương của bố đã có tác động ghê gớm, chạm vào phần xấu lâu nay đọng lại
trong An. An đã bẵng đi một thời gian lơ là chăm sóc mẹ, không chịu học
hành để nhận thất bại thảm hại trong kỳ thi đại học. An đã làm mẹ buồn
và ốm thêm. Vậy mà bố không trách mắng gì An, bố còn nhận hết trách
nhiệm về bố và tự trách mình. Bố thật cao thượng! Những lời nói của bố
giờ đây làm bừng lên trong An ngọn lửa tâm hồn mà nếu thiếu ngọn lửa đó,
tất cả những gì mà An thu nhận được chỉ là vô nghĩa. Những lời nói ít
ỏi, những cử chỉ giản dị, trong sáng của bố, bề ngoài thật nhẹ nhàng,đã
làm rung lên sợi dây đàn ẩn giấu lâu nay trong sâu thẳm cõi lòng An. Nhờ
điều đó, An đã biết trân trọng cái thiện, điều nhân nghĩa, biết hướng
tới những điều lớn lao.
Từ lúc đó, An thấy mình như thành người lớn thật sự. Lời bố như vẫn văng vẳng bên tai An.
Bố
đi rồi, An trở thành con người khác hẳn. An xa dần các bạn còn lại
trong nhóm của Bình. An tự nhủ mình phải biết làm gì. An lao vào học ôn
thi đại học. Miếng nhựa đen nhỏ ghi tang mẹ vẫn hiện diện trên ngực áo
An mỗi ngày. Chưa bao giờ An thấy thương bố mẹ như lúc này. Nhất định An
phải học, phải thành người tử tế. Lòng quyết tâm và sự cố gắng đó đã
không phụ An. Năm đó, An thi đỗ vào trường Đại Học Bách khoa Hà Nội.

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét