CHƯƠNG 3
Lâu lắm rồi Bình không nhận được thư An. Không hiểu lâu nay An ra sao?
An có hòa nhập được với hội sinh viên thủ đô và các tỉnh khác không ?
Vừa miên man suy nghĩ, Bình vừa đi ra bến tàu điện ngầm để đến Phòng
Cảnh sát quận, quận Bình ở hiện nay. Bụng đói cồn cào. Phải rồi! Sáng
nay Bình chưa kịp ăn gì cả. Vội vàng đi, Bình chỉ uống một cốc sửa nhỏ
mà thôi. Nhìn đồng hồ, đã 1 giờ 30 phút chiều. Phải ăn tý gì đã. Nghĩ
rồi Bình đi đến trước cửa hàng bánh mỳ. Bình mua một chiếc bánh sừng bò (bánh croissance) và một chai nước nhỏ. Lần đầu tiên Bình chỉ ăn có
vậy. Bình mỉm cười, không ngờ giờ đây Bình cũng bắt đầu biết tiết kiệm.
Chưa bao giờ kể từ khi đặt chân lên nước Pháp, Bình ăn đơn giản như vậy -
trước đây chí ít cũng là cái bánh kẹp nhân (sandwich), rẻ cũng 3,5
euro, có loại lên tới 4,5 hay 5€ gì đó. Đâu có phải chỉ có nửa cái bánh
mỳ hình chiếc đủa (baguette) trong đó kẹp quả trứng rán như cái Mai hay
cái Hạnh vẫn làm rồi mang đến trường để ăn trưa. Học ở Tây mà! Phải ăn
tiêu giống Tây chứ! Bình vẫn tự cho mình như vậy. Nhưng lần này, một
phần tiền đã cạn, một phần Bình cảm nhận được một điều gì đó nghiêm túc
tuy còn mơ hồ hiện ra trong thực tế mà Bình phải hiểu, phải chấp nhận,
phải cố gắng.
Vừa đi vừa ăn. Rồi như sợ
muộn, không kịp làm xong giấy tờ trong buổi chiều, Bình chạy ngay đến
bến tàu điện ngầm. Chẳng hiêể tiếng Pháp của Bình trong gần ba năm qua
đến đâu. Do kém tiếng Pháp hay do hoảng hốt mà Bình đã đi nhầm
hướng.
Thực ra, nếu chịu khó để ý
thì việc đi lại bằng tàu ngầm hay đi xe buýt ở Pháp cũng không có gì là
khó lắm. Ở khắp các bến đều có sơ đồ, bản hướng dẫn rất rõ ràng. Hồi mới
sang, ở Paris, Bình cũng được Thái hướng dẫn mua vé cả năm đi tàu điện
ngầm theo chế độ của sinh viên dưới 25 tuổi. Giá loại vé đó rẻ bằng một
nửa giá vé mua cả năm đối với người bình thường. Còn nếu mua vé ngày thì
đắt bởi nó chỉ dùng cho những ai thỉnh thoảng mới sử dụng loại phương
tiện giao thông công cộng đó. Có lần, Thái nói với Bình, tàu điện ngầm ở
Luân Đôn ra đời sớm nhất, có lẽ tàu điện ngầm ở Paris tiện lợi nhất.
Ở Paris, mãi đến ngày 19 tháng 7 năm 1900, con đường tàu điện ngầm đầu
tiên ngầm đầu tiên mới được ra đời, chủ yếu phục vụ hành khách đến tham
quan cuộc triễn lãm toàn cầu. Từ đấy cho đến nay, hình thành tất cả 16
đường tàu điện ngầm, 5 đường tàu đường dài (R.E.R), với 297 bến. Chiều
dài của cả hệ thống tàu điện ngầm là 211,3 kí lô mét. Hãng giao thông
vận tải bằng tàu điện ngàm phải sử dụng số nhân viên làm là 12.000
người. Hệ thống giao thông bằngtàu điện ngầm đã giúp Paris giãn ra
đượcrất nhiều số hành khách đi trên mặt đất. Người ta tính ra hằng năm
có khoảng 1,1 tỷ lượt người sử dụng phương tiện giao thông công cộng
này.
Cứ hai đến ba phút lại có một
chuyến tàu đến nên thường người ta không vội vã nhảy lên toa tàu khi có
tiếng còi tàu kéo dài báo hiệu sẽ đóng cửa, người ta cũng không chen
lấn, xô đẩy nhau khi muốn sớm hơn được mấy phút. Tiện là vậy nhưng những
ngày có biểu tình của cán bộ, công nhân Hãng Giao thông vận tải Paris (RATP), giao thông tạm ngừng hoạt động hoặc thỉnh thoảng mới có một con
tàu thì hành khách bị động đến khủng khiếp. Mà ở Pháp thì đó không phải
là hiếm; Còn ở thành phố Rennes, tàu điện ngầm chỉ có một tuyến chạy suốt từ Bắc đến Nam và ngược lại, nhưng cũng tiện.
° ° °
Sau
khi biết mình bị nhầm, Bình vội nhảy xuống tàu, nhìn lại sơ đồ. Vừa
thở hổn hển, vừa lẩm nhẩm chửi nhân viên Sở Cảnh sát. Mà chửi bằng tiếng
Việt thì chẳng ai hiểu được, trừ khi đâu đó vô tình có ai biết tiếng
Việt nghe thấy. Nhưng có đứng gần mà không chú ý thì cũng chẳng nghe nổi
vì Bình dù tức cũng đâu có điên loạn hay thần kinh không bình thường mà
cất cao giọng như một số kẻ vẫn say đôi khi vừa đi vừa nói lảm nhảm,
vừa chửi ầm ỹ trong các bến tàu hay trên xe buýt.
Mãi đến hơn 3 giờ chiều, Bình mới đến được nơi mới. Trời qua trưa sang
chiều, đỡ lạnh hơn. Tuy nhiên khi đứng ở ngoài trời, những cơn gió thổi
mạnh, trời âm u, kèm theo những bộ mặt buồn buồn, đầy kiên nhẫn, vẫn làm
cho ta có cảm giác lạnh. Lạnh cóng bên ngoài và lạnh vào cả trong. Vừa
mệt vừa nhìn thấy một dãy người xếp hàng dài dằng dặc, Bình ngao ngán.
Chưa bao giờ Bình cảm thấy cô đơn, xa lạ, lạnh lẽo và buồn tủi như lúc
này. Mà thật lạ lùng , bởi Bình đang đứng ở nước Pháp, một trong những
nước đẹp nhất, giàu có nhất Châu Âu. Đúng, nước Pháp đẹp thật, đạc biệt
là ở thủ đô Paris, thủ đô ánh sáng.
Nhưng lúc này đây, cảm giác xa lạ, lạc lõng xâm chiếm tâm can Bình. bất
chợt, Bình nhớ tới con chim dẽ gà vụt qua mặt Bình sáng nay. Tại sao chỉ
có một con chim ấy thôi? Cô đơn một mình nó! Nó chăm chăm vào khoảng
không vô tận. Bình nghĩ, chắc nó đang hỏi tổ của nó ở đâu. Lát sau, nó
khẽ khàng bay đi, cất lên những tiếng hót nhẹ, buồn… Tự nhiên, Bình
liên tưởng đến hoàn cảnh của mình lúc này.
Bình bình tĩnh đứng vào hàng, trật tự như mọi người. Nhìn đồng hồ thấy
đã gần 4 giờ chiều, mà hàng người mới nhích lên được quá nửa. Chắc là
không kịp nữa rồi. Chẳng biết hỏi ai, chẳng nói chuyện được với ai vì
Bình vẫn mặc cảm về tiếng Pháp của mình. Bình rời hàng, lặng lẽ ra về.
Vậy là mất toi một ngày. Tồi về, thường như trước đây, Bình có thể chạy
sang chỗ Thái ở, hỏi thêm những cái cần thiết và tâm tình đôi chút cho
khuây khỏa. Nhưng từ ngày Thái về Việt Nam hẳn, Bình như buồn hơn, có ý
thức hơn một chút về hoàn cảnh thực của mình. Những năm trước đây, Bình
liên tục gọi điện nhắc bố mẹ gửi ngay tiền và gửi nhiều vì Bình kê một
loạt những thứ cần thiết cho học hành, cuộc sống… Những lần như thế, bố
mẹ Bình không thắc mắc, không ngần ngại, tìm cách chuyển ngay vào tài
khoản của Bình số tiền mà Bình yêu cầu. Trước đây cũng có lần do tiêu
quá đà, Bình phải vay chú Thanh. Nhưng nay không những Thái, cô Cúc
không còn ở đây nữa mà chú Thanh cũng đã về nước rồi.
CHƯƠNG 4
Trên đường về, Bình không đi thẳng về nhà, Bình
dừng lại trước cửa một công viên. Trước đây, có mấy khi Bình vào những
chỗ như thế này đâu. Những nơi Bình hay đến là các cửa hàng quần áo,
giày dép xịn, các quán cà phê, các điểm bán thuốc lá… Lần này chẳng hiểu
sao, bước chân cứ đưa Bình vào đây. Có lẽ Bình cảm thấy cần có chỗ yên
tĩnh lúc này, cần có không khí để thở chăng?
Cảnh
công viên thật là đẹp và yên lặng. Không phải là ngày thứ tư hay ngày
thứ bảy, chủ nhật hàng tuần, nên công viên vắng hẳn tiếng trẻ em. Chỉ có
những bé ở tuổi mẫu giáo nó có người trông, không đến trường hay những
em bé còn quá nhỏ, được mẹ chúng hay những người giúp việc cho nằm trong
xe đẩy, đi khắp công viên. Bình cứ mải mê nhìn. Trên một lối đi, một
ông già đang vứt a mẩu bánh mì nho nhỏ cho chim ăn. Cả đàn chim sà vào
người ông, đậu trên vai, trên cánh tay ông. Mọi người nhìn ông thán
phục. cũng có những người thử làm như ông nhưng không được. Thấy mồi,
đàn chim đến gần nhưng nhìn thấy người cho mồi, chúng ngần ngại một lát,
rồi lại bay đi. Xa xa, những chú vịt với bộ lông màu quyến rũ đang lượn
lờ trên mặt hồ phẳng lặng. Xung quanh hồ, người đi dạo, kẻ ngồi, người
nằm trên những chiếc ghế được đặt sẵn.
Mệt
mỏi vì phải đi bộ đã nhiều, Bình chẳng còn hứng thú gì đi dạo ở đây
nữa. Nằm bệt trên một chiếc ghế cạnh hồ, mắt nhắm lại, Bình mơ màng suy
nghĩ…
Xa Thái đã mấy tháng nay rồi mà
Bình vẫn bàng hoàng, thắc mắc lòng tự hỏi. Vì sao Thái nói giỏi tiếng
Pháp như vậy, giao tiếp các nơi Bình thấy Thái có thua ai đâu, sao Thái
phải về nước vĩnh viễn khi chưa học xong, chưa có bằng cấp gì cả? Hay là
cô Cúc không còn đủ tiền cung cấp cho Thái tiếp tục học nữa? Thái không
muốn học hay vì lý do gì đó khiến Thái phải "giữa đường đứt gánh" như
vậy?
Mãi gần đây, Mai mới nói cho Bình biết điều Bình vẫn thường tự hỏi đó.
°
Thái
là con trai duy nhất của cô Cúc và chú Hùng. Bố Thái là cán bộ đối
ngoại giỏi, có uy tín cả về năng lực chuyên môn, cả về đạo đức. Mẹ Thái
là nhân viên, làm việc cùng cơ quan với chồng. Bố Thái qua đời cách đây
mấy năm vì một căn bệnh hiểm nghèo. Năm Thái tốt nghiệp phổ thông trung
học cũng là năm mẹ Thái được sứ quán đối ngoại cử sang công tác tại
Paris một nhiệm kỳ ba năm. Thật may mắn, Thái đi cùng mẹ! Cả hai mẹ con
ấp ủ bao mơ ước khi Thái sẽ được đào tạo ngành nghề trên đất Pháp.
Từ
ngày chú Hùng không còn nữa, bao nhiêu tình cảm yêu thương cô Cúc dồn
hết vào đứa con trai. Cô lo lắng và chăm sóc Thái từng ly từng tí như sợ
Thái bị đói hay bị ốm. vẫn chưa yên tâm, cô mua cho con những thứ con
yêu cầu để đáp ứng việc học hành. Cô sắm cho Thái nào tivi, máy vi tính,
nào điện thoại di động, thứ nào cũng loại thật xịn.
Cũng
như những học sinh Việt Nam khác đã đỗ tốt nghiệp phổ thông ở quê nhà,
Thái phải theo học một năm ngoại ngữ vì vốn tiếng Pháp của Thái quá ít
ỏi. mặc dù bố Thái, lúc còn sống, rất giỏi tiếng Pháp, nhưng Thái thì
chẳng mặn mà gì với cái món này. Cô Cúc ở lo lắng quá sức. Nghe những
người đi trước góp ý, cô cho con mình ghi danh vào học tiếng ở trường
Đại học Sorbonne IV. Đó là nơi vừa nổi tiếng vừa đảm bảo chất lượng
giảng dạy. Song hành với những điểm quý giá đó là tiền học phí rất cao.
Thời gian học sáu tháng kể cả các kỳ nghỉ trong đó, ví dụ hai tuần nghỉ
năm mới và Noel, hai tuần nghỉ đông..mỗi tuần 25 tiết học, số tiền học
phí phải đóng khoảng hai nghìn Euro, tương đương bốn mươi triệu đồng
Việt Nam.
Vậy
rồi, Thái nản dần. Có những hôm, Thái sợ không viết được bài để trả
thầy, Thái trốn học. Thái không dám nói với mẹ điều ấy vì sợ mẹ buồn.
Mỗi lần Thái đi học về, mẹ Thái lại chuẩn bị những món ăn ngon để bồi bổ
cho Thái.
Sáu tháng học trôi qua, Thái
chẳng lấy được cái chứng chỉ nào cả. Cực chẳng đã, mẹ Thái lại cho Thái
ghi danh học tiếp một khoá nữa. Lần này, Thái có tiến bộ hơn về khẩu
ngữ. Sau sáu tháng học tiếp, Thái nói tiếng Pháp trôi chảy hơn nhưng
những bài viết bằng tiếng Pháp vẫn chẳng cải thiện được là bao. Khi ghi
danh vào trường đại học, lẽ ra Thái phải làm một bài kiểm tra viết về
ngữ pháp như tất cả các sinh viên nước ngoài đến Pháp học, song Thái chỉ
phải tham dự cuộc phỏng vấn xét duyệt vào trường đại học thôi, bởi vì
Thái là con cán bộ đối ngoại. Thái đã vượt qua cuộc phỏng vấn ấy. Vậy
là, sang năm thứ hai ở Pháp, Thái là sinh viên năm thứ nhất khoa Kinh
tế, trường đại học Sorbonne ở Panthéon, Paris.
Khi
học kỳ I kết thúc, Thái tham dự đủ các môn thi, nhưng 9/12 môn thi
không đạt điểm. Thái thấy nản. Vào trường, Thái được biết, ở các trường
đại học, năm thứ nhất là năm thanh lọc. Có những trường chỉ có 30% sinh
viên đủ tiêu chuẩn học tiếp lên năm thứ hai. Phần thì thấy khả năng của
mình không theo nổi, phần thì thiếu nghị lực, không tự giác, không chịu
học hỏi. Thái không theo học nữa, cứ để cho năm học trôi tuột đi (thường
ở các trường đại học như vậy, khoa tổ chức những giờ giúp sinh viên yếu
các môn học, do các sinh viên giỏi đang học những năm trên hay sinh
viên mới ra trường được giữ lại làm giáo viên, đảm nhận).
Khi
năm học kết thúc, kết quả học tập của Thái chẳng có gì cả. Thái buồn
một mà mẹ Thái buồn mười. Cô Cúc đặt hết hy vọng vào đứa con trai. Đúng
là tài sản chẳng có gì nhiều, giàu có chẳng hơn ai nhưng cô Cúc đã hy
sinh tất cả cho con mình. Có lẽ như vậy, cô cũng phải bớt ăn, bớt tiêu
mới có điều kiện cho cho Thái. Thái nói với mẹ rằng Thái cũng hiểu những
lo lắng của mẹ, cũng muốn học tốt để vui lòng mẹ nhưng Thái không muốn
học và không học được, rằng Thái cũng đâu có muốn thua kém bạn bè…Nói là
hiểu mẹ, thương mẹ vậy, nhưng rồi sự lười biếng, tính đua đòi, thích
mua sắm những loại giày dép, quần áo có nhãn hiệu nổi tiếng, làm Thái
quên hết. được mẹ nuông chiều, ỷ vào mẹ, Thái đã hoàn toàn không tự giác
và không tạo cho mình tính tự lập.
Rồi
năm tiếp theo, Thái bảo mẹ cứ yên tâm. Thái ghi danh vào học năm thứ
nhất khoa Luật, Đại học Sorbonne II. Thái giải thích với mẹ là năm trước
Thái đồng ý học ngành Kinh tế để chiều theo nguyện vọng của mẹ chứ
không phải vì Thái yêu ngành đó. Thái cho rằng ngành Luật hợp với mình
hơn vì Thái nói nhiều và rất ưa giao tiếp. Lúc nói như vậy, Thái không
hề nghĩ rằng học Luật đòi hỏi phải đọc, viết nhiều và phần lớn các môn
học là lý thuyết, đòi hỏi kiến thức xã hội rộng. Mặc cho mẹ và bao bạn
bè ngăn cản, Thái cứ khăng khăng làm thủ tục nộp cho trường và vượt qua
cuộc phỏng vấn không mấy khó khăn của ban giám khảo là cán bộ đào tạo
của Khoa. Thái được nhận vào trường. Thấy Thái phấn khởi ra mặt, thoả
mãn với ngành nghề đã lựa chọn, dần dần mẹ Thái cũng thấy yên tâm.
Thời
gian cứ thế trôi, mẹ Thái vẫn thấy con đến trường đều đặn nên đâu có để
ý. Hơn nữa, khi có con học đại học ở Pháp, nếu bố mẹ có để ý mà con
không tự giác thì cũng chẳng giải quyết được vấn đề gì. Mẹ Thái thừa
hiểu, khi con là sinh viên, dù cô có lo, có đến trường hỏi tình hình học
tập của con, cũng chỉ nhận được câu trả lời: "Con bà đến tuổi trưởng
thành, chúng tôi không có quyền nói những gì thuộc về con bà. Nếu bà
muốn, bà có thể gặp trực tiếp giáo viên giảng dạy lớp con bà học".
Làm
có thể gặp trực tiếp giáo viên bộ môn được? Trong những tài liệu của
trường phát, không có số điện thoại cũng như địa chỉ gia đình của từng
giáo viên. Mà ở một đất nước tiên tiến như Pháp làm sao có thể đến nhà
riêng của giáo viên được nếu như không có mối quan hệ bạn bè, họ hàng
thân thiết với họ. Ngay từ trường phổ thông cơ sở, trường phổ thông
trung học cho đến trường cao đẳng hay trường đại học, giáo viên không
bao giờ tổ chức dạy thêm hay phụ đạo gì cho học sinh lớp mình dạy.
Ở
nước Cộng hoà Pháp, hệ thống giáo dục và đào tạo đã đi vào quy củ từ
nhiều năm và đặc biệt rất nghiêm túc. Thi tốt nghiệp phổ thông trung học
rất khó. Lúc còn học ở trường phổ thông cơ sở và kể cả trường phổ thông
trung học, học sinh cứ nghỉ buổi học hay giờ học nào, hay thậm chí đi
học muộn, phòng phụ trách học tập gửi ngay giấy báo về cho phụ huynh vào
cuối tháng đó. trường hướng nghiệp ngay khi học sinh đang đi học lớp 1o
để đến lớp 11 và 12 là chuyên môn hoá rồi. Học sinh nào không học được
những môn học cần cho ngành chọn, nhà trường sẽ yêu cầu gặp phụ huynh
học sinh đó để báo ngay việc chuyển đổi. Thi tốt nghiệp không những học
sinh phải đủ điểm của hơn chục môn thi cuối lớp 12, mà còn tính cả điểm
của quá trình học hia năm cuối cấp cộng với điểm thi tốt nghiệp môn
tiếng Pháp ở lớp 11. Chính vì vậy, cái bằng tốt nghiệp phổ thông trung
học của học sinh có được rất khó và có giá trịn như một cuốn hộ chiếu,
để sau đó, học sinh có thể tự ghi danh vào các trường đại học theo sự
lựa chọn của mình và được trường đại học đó chấp nhận chứ không phải thi
vào đại học như ở Việt Nam. Chỉ trừ khi học sinh muốn học tiếp hai năm
dự bị (hai năm học này được tính tương đương với hai năm học đại học đại
cương ở trường đại học), hồ sơ sẽ được xét duyệt rất kỹ để rồi sau hai
năm đó, nếu học sinh có khả năng, sẽ dự thi tuyển vào các trường lớn như
đại học Sư phạm, đại học Bách khoa, đại học Thương mại, vv.v..Nếu khi
thi tốt nghiệp phổ thông, học sinh lấy được tấm bằng có xếp hạng tương
đối khá, khá hay giỏi thì khi xin vào trường đại học sẽ có nhiều sự lựa
chọn hơn.
Học sinh Pháp được đào tạo cơ
bản ngay từ nhỏ, có tính tự lập cao nên lúc vào đại học là gần như tự
giác hoàn toàn. Họ phải học theo tính chất tự nghiên cứu, tự đi thư viện
để tìm sách vở, tài liệu theo một danh sách thư mục mà thầy cô giáo
phát cho sau những buổi giảng trên lớp. Những buổi học trên giảng đường,
sinh viên muốn đến hay không, thầy cô giáo không biết, không quan tâm,
chỉ biết giảng bài (trừ những giờ thực hành là có điểm danh và châm
điểm), nhưng đến lúc thi không được thì sinh viên phải chịu hậu quả.
Sinh viên nước ngoài tới Pháp học, thầy cô giáo không phân biệt giữa
người Pháp và người nước ngoài để nhân nhượng về vấn đề tiếng Pháp còn
yếu hay chưa chuẩn. Các thầy cô giáo đánh giá khá công bằng khi một học
sinh có thành tích. Thậm chí, các thầy cô rất thích và quý sinh viên
Việt Nam về tính cần cù, chịu khó.
Khi
học kỳ I của Thái kết thúc cũng là lúc Đại sứ quán Việt Nam tại Paris tổ
chức Tết Nguyên đán. Cũng như mọi năm, cán bộ Việt Nam công tác ở các
cơ quan đại diện đều được mời đến dự. Bình cũng được cô Cúc, mẹ Thái,
mời vào. Cô Cúc vẫn thấp thỏm về tình hình học tập của con mình. Không
thể giấu mãi được, Thái đành phải nói kết quả thi học kỳ cho mẹ biết. Cô
Cúc cay đắng chấp nhận cái điều có thật không thể tin nổi đó. con cô
không thể qua nổi các kỳ thi của một cái ngành nghe thật hay nhưng học
vô cùng khó.
Học một ngành khoa học xã
hội, sinh viên phải tự giác đọc nhiều. Phần lớn các môn học đòi hỏi phải
học và làm việc tại các thư viện. Ở Pháp gần ba năm rồi mà Thái không
có thói quen làm việc ở thư viện. một điều chắc chắn Thái không vượt qua
nổi là muốn làm việc có hiệu quả ở các thư viện phải có tính kiên trì. Ở
các thư viện lớn, hàng ngày cứ đầu giờ sáng và đầu giờ chiều mở cửa,
độc giả phải xếp hàng, có lúc phải chờ hàng giờ mới vào được. Dù xếp
hàng dài nhưng ai cũng kiên nhẫn chờ lượt. Vào đến thư viện, phải biết
sử dụng thẻ qua máy để lấy phiếu ghi tên, chỗ ngồi… Mỗi người một bàn
nhưng các dãy bàn kê sát nhau, trừ lối đi lại để tiết kiệm diện tích, có
đèn bàn, đủ ánh sáng để đọc và tra cứu. không khí thật tĩnh lặng và
nghiêm túc. Ai nấy đều cắm đầu cắm cổ vào sách vở, vào công việc của
mình. Có khát nước hay đói thì phải dùng thẻ của mình để ra khỏi phòng
đọc, xuống phía dưới, mới có máy tự động phục vụ, ăn uống xong rồi mới
được trở lại chỗ của mình. Buổi trưa, những thư viện lớn vẫn mở cửa.
nhưng muốn ăn đủ bữa, phải tìm chỗ ăn ngoài thư viện hoặc mang theo đồ
ăn, song tuyệt đối không được ăn trong phòng đọc. Máy móc, sách, tài
liệu, gần như đầy đủ bởi vì những loại sách nhiều người tra cứu, thư
viện không cho mượn về nhà. Vì thế, nhiều người phải đến thư viện mới có
đủ tài liệu để nghiên cứu, học tập. Những thư viện mở cửa từ 10 giờ
sáng đến 10 giờ tối. Vậy mà nhiều hôm gần đến giờ đóng cửa người đọc vẫn
còn đông, đặc biệt là vào mùa thi cử. Học nghiêm túc, tích cực mà nhiều
sinh viên vẫn không qua nổi các kỳ thi. Mỗi lần thi lại, sinh viên phải
đóng tiền và vì thế cũng có những người phải bỏ học dở dang, chuyển
sang hệ cao đẳng hoặc trung cấp…Các môn thi vấn đáp, thí sinh không
những phải hiểu câu hỏi của ban giám khảo, trả lời đúng, mà còn phải
biết tìm cách lý giải để bảo vệ ý kiến của mình. Các môn thi viết còn
khó hơn vì nếu chỉ học thuộc, trả lời nguyên xi như trong sách giáo khoa
thì may ra chỉ đạt điểm trung bình, nếu không phạm phải lỗi nào, cũng
có khi không đạt điểm. Muốn được điểm cao, phải biết cách phân tích, tóm
tắt, tổng hợp, bình luận những điều mình hiểu từ những vấn đề thầy cô
giáo giảng và từ những kiến thức trong sách giáo khoa cũng như từ các
tài liệu liên quan. Lúc thi cử mới thấy giáo viên, cán bộ coi thi và thí
sinh nghiêm túc vô cùng. Đôi lúc có ai đó không nhớ bài, tí toáy mở tài
liệu, nếu không bị giám thị phát hiện thì lại bị chính thí sinh ngồi
gần phát hiện ra, báo cáo sự việc với giám thị. Những thí sinh như vậy
không phải là xấu bụng mà họ muốn có sự công bằng, minh bạch. Giáo dục
của Pháp đề cao tính trung thực. Thà thí sinh mang tiếng là học kém chứ
không chấp nhận chịu tiếng gian lận. Và chỉ cần có người báo cáo sự
việc, dù thí sinh đã dùng được tài liệu rồi hay chưa, giám thị kiểm tra
lại, lập ngay biên bản, thu bài thi và mời thí sinh ấy ra khỏi phòng
thi. Trong giờ thi, ai nấy tự làm bài của mình. Nếu không hiểu, không
làm được, đành nộp giấy trắng. Có lẽ cách học và thái độ đẹp trong thi
cử như vậy, có được, cũng là nhờ vào hệ thống giáo dục, đào tạo sinh
viên đã được làm quen từ nhỏ, từ những năm còn học ở trường phổ thông cơ
sở cho đến sau này. Sinh viên Pháp nói chung là tốt, cũng rất sòng
phẳng. Sòng phẳng trong học hành, thi cử, sòng phẳng trong ăn uống, sinh
hoạt… Rủ nhau đi ăn hoặc đi chơi đâu đó, số tiền phải chi, phần ai nấy
trả. Cũng như phần lớn các cặp vợ chồng sống chung với nhau, mỗi người
đều có tài khoản riêng và tiền của ai người ấy giữ.
Trong
giao tiếp, Thái tỏ ra mạnh dạn và nói năng trôi chảy nhưng cũng chỉ
thật sự trôi chảy khi giao tiếp sinh hoạt bình thường thôi, chứ khi phải
tranh luận về một vấn đề gì bắt buộc phải dùng những lời giải thích,
lập luận thì Thái cũng chịu. Những bài thi viết, phải lập luận, phải
phân tích, phải bình luận thì Thái thấy khó khăn vô cùng. Vì ít đọc, ít
tham khảo tài liệu cộng với kiến thức xã hội kém cỏi, những bàithi viết
của Thái không đủ điểm, ở nhiều môn điểm còn cách xa điểm trung bình.
Biết
con mình không thể học được các môn xã hội dù nó thích, mình lại sắp
sửa hết nhiệm kỳ phải về nước, cô Cúc đã bắt con làm hồ sơ chuyển về
tỉnh học ngành tin học ở một trường cao đẳng. một mặt ở tỉnh việc học đỡ
căng thẳng hơn, mặt khác, Thái sẽ ít có điều kiện tiếp xúc với số bạn
bè lười biếng, ăn chơi ở Paris. Thái tìm mọi cách phản kháng nhưng vì
kinh tế còn phải phụ thuộc nên dù không muốn, Thái cũng phải chấp nhận.
Rồi
hè đến! Hè về, ở Paris, không có tiếng ve sầu kêu ra rả suốt ngày đêm
trên các cành cây, không thấy hoa phượng đỏ thắm rực rỡ khắp nơi như ở
Hà Nội. Ở Paris, mùa hè đến được báo trước bằng lượng khách du lịch ngày
mỗi đông trên các đường phố, bằng những cú điện thoại liên tiếp gọi về
các hãng hàng không đặt vé, bằng sự nô nức chuẩn bị đi nghỉ h` của người
dân.
Sau hè năm đó, mẹ Thái phải từ biệt
đứa con trai của mình và những người đồng nghiệp mến thương, chia tay
các bạn Pháp để trở về nước, nhận công tác mới.
Còn
một mình, Thái xác định là phải cố gắng tập trung vào học tập. Tuy
nhiên sự cố gắng ấy không đêu đặn. Vào năm học mới, Thái tỏ vẻ tích cực,
cũng đi thư viện, cũng cố gắng dùng từ điển để thêm vốn từ vựng. Nhưng
rồi gặp những bài toán khó, những câu hỏi đòi hỏi phải phân tích, chứng
minh, Thái lại nản. sắp đến kỳ thi học kỳ I, lẽ ra phải lao vào học thi.
Thái lại nhìn ngó ngành học của những bạn khác. Do chủ quan coi thường,
thấy mình ghi danh hay phỏng vấn vào trường đại học nào cũng được nhận,
Thái mơ hồ tiếp tục "trò chơi" đổi trường, đổi ngành một lần nữa.
"Việt
Nam đang trên đà phát triển, Việt Nam sẽ được gia nhập tổ chức thương
mại thế giới, Việt Nam ngày càng mở cửa làm ăn với nhiều nước lớn. Ta
nhất định sè học ngành thương mại. Với kiến thức ta thu lượm được, dù
sống, làm việc ở Tây hay ở Ta, ta sẽ tha hồ hốt bạc, Pháp là nước nổi
tiếng về rượu vang, bánh mì và phó mát, ta đã nghiên cứu mấy cái trường
đại học thương mại, cái tên nghe kêu lắm". Thái cứ nói một mình như vậy
và cứ như Thái đã cầm chắc cái bằng đại học đến nơi rồi. có lẽ lúc đó,
Thái chẳng khác gì cô gái trong câu chuyện của Pháp "Brette và bình sữa
trên đầu", cô ta vừa đội sữa đi ra chợ bán, vừa mơ tưởng đến những gì cô
ta sẽ có được từ số tiền bán bình sữa của mình nhưng rốt cục, cô ta chỉ
thu được con số không vì bình sữa bị đổ xuống đất vỡ tan khi cô ta
thích chí nhảy cẫng lên.
Cứ miên man
trong ảo tưởng, đứng núi này lại nhìn núi nọ, thiếu bản lĩnh trong việc
chọn ngành nghề, Thái đã để mất hết. ngoài tiền bạc, Thái mất quá nhiều
thời gian cộng thêm là rắc rối về mặt giấy tờ hợp pháp mà cho đến khi
thao thao bất tuyệt một mình, Thái không một mảy may nghĩ tới. đã quá
tam ba bận rồi mà Thái đâu có thèm quan tâm. Thái không quan tâm nhưng
sở Cảnh sát của thành phố Thái học lại quan tâm. Trên máy tính của họ,
hồ sơ của Thái từ lúc sang được ghi một cách rõ ràng, cặn kẽ từng thời
gian một.
Lần này Thái lại ghi danh vào
trường Cao đẳng Thương mại. trường này lập tức gửi ngay hồ sơ cho Thái.
Sau khi điền vào hồ sơ và viết đơn xin học, Thái được nhận nếu như Thái
qua được kỳ phỏng vấn. Phỏng vấn đối với Thái thì dễ ợt, vì dù sao Thái
nói năng cũng lưu loát, âm điệu lại còn tây tây nữa. Ai mới tiếp xúc,
nghe Thái nói, đều khen và cho rằng Thái đúng là con nhà nòi. Vậy là
Thái được nhận vào trường, chỉ còn chờ ngày nhập học. không hiểu sao
Thái vẫn có vẻ vênh vang, tự hào lắm. mặc dù từng học và từng qua các kỳ
thi, chắc chắn Thái biết được rằng ở Pháp, vào trường đại học, cao đẳng
thì cực dễ, song tốt nghiệp lại không hề dễ. phải học theo đúng nghĩa
học, học trầy vẩy thì mới dám chắc.
Biết
là vậy nhưng Thái cứ đổi trường, đổi ngành như người ta thay áo vậy. Lần
này thì Thái khăng khăng thề thốt sẽ đi đến cùng ngành nghề đã chọn.
Nhưng rồi không hiểu nếu học Thái sè đi đến cùng ở học kỳ I hay học kỳ
II?
Thật không may cho Thái, nguyện vọng
cháy bỏng chưa kịp thực hiện thì Thái phải vĩnh viễn rời đất nước nổi
tiếng về rượu vang, bánh mì và pho mát. Sở Cảnh sát không thể cấp tiếp
thẻ lưu trú cho một sinh viên người nước ngoài, sau khi tốt nghiệp phổ
thông trung học, bốn năm ở trên đất nước họ, mà không có một bản ghi
nhận kết quả học tập của một năm nào trọn vẹn ngoài chứng chỉ học tiếng
Pháp. Ba năm liên tiếp Thái học ở ba trường đại học, cao đẳng khác nhau,
nhưng không có hiệu quả.

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét