Chúng ta hay bàn nhiều về đạo đức, nhân cách con người Việt Nam nhưng có lẽ còn ít nói đến phép lịch sự, cách xử thế của họ trong các quan hệ giao tiếp diễn ra hàng ngày trong gia đình, ngoài cộng đồng. Cũng có người nghĩ rằng phép lịch sự là cái gì xã giao bề ngoài, hình thức làm mất tính đặc thù cá nhân. Họ muốn sống một cách "tự nhiên", riêng biệt, không giống người khác. Điều đó có đúng không? Ở đây, chúng ta thử tìm hiểu về cách xử thế và phép lịch sự của mỗi cá nhân trong giao tiếp gồm những nội dung gì, có ý nghĩa như thế nào? có đem lại cho chúng ta sự thoải mái, dễ chịu trong cuộc sống thường ngày không?
Con người luôn sống trong các quan hệ xã hội đa dạng, phức tạp. Các quan hệ này tạo ra môi trường sống thường xuyên của mỗi cá nhân và ảnh hưởng đến sự hình thành nhân cách và xu hướng hành động của họ. Chính cuộc sống đòi hỏi mỗi người phải có xử thế đúng đắn, thể hiện qua phép lịch sự trong quá trình tiếp xúc với các đối tác khác nhau, ở những địa điểm khác nhau. Đồng thời chính con người lại chủ động xây dựng những mối quan hệ đó một cách tốt nhất cho bản thân, cho cuộc sống, góp phần tạo nên một xã hội ổn định, hài hòa, tiến bộ và văn minh hơn.
Vậy cách xử thế và
phép lịch sự là thế nào? Nội dung bao gồm những vấn đề gì?
Cách
xử thế chính là những hiểu biết về các phong tục, tục lệ của đời sống xã hội.
Một người có cách xử thế đúng đắn (được giáo dục, hướng dẫn) khi giao tiếp với
xã hội phải tuân theo những chuẩn mực nhất định, hành động theo một số quy ước
và yêu cầu đã được mọi người coi là thích hợp nhất. Những chuẩn mực, quy ước đó
chính là nội dung của cách xử thế được thể hiện qua phép lịch sự trong đối xử
hàng ngày.
Cách
xử thế, cũng như phép lịch sự thay đổi theo hoàn cảnh lịch sử cụ thể (xưa khác
nay), theo môi trường nhất định (ở gia đình khác ở nơi công cộng)...
Trước
kia khi chúng ta chào người già người trên, hơn mình về tuổi tác về địa vị xã
hội, về thứ bậc trong gia đình, dòng họ... thì thường cúi đầu nói "lạy
ông, lạy bà, lạy cụ...". Ngày nay, người lớn, trẻ em khi chào chỉ nói:
"cháu chào ông, chào bà...". Đó là chuẩn mực mới được xã hội hiện đại
chấp nhận. Thay cho khoanh tay, vái lễ, người ta bắt tay nhau kể cả giữa nam
nữ, giữa người trên, người dưới (thường người trên giơ tay ra trước), đối với
người già thì không bắt tay, chỉ chào, tránh việc người trẻ giơ tay bắt tay
người già.
Về
môi trường, địa điểm: Ở gia đình, cha mẹ, con cái, anh em chuyện trò vui vẻ,
bộc lộ tình cảm thân thiết, tâm sự cùng nhau những chuyện riêng tư. Nhưng khi
giao tiếp với người lạ, lần đầu gặp ở nơi công cộng (ở bến xe, khi đợi mua
hàng...) thì lại cần phải kín đáo, nói ít, không bộc lộ đời tư của mình, không
sa vào những câu chuyện dài dòng, đặc biệt nói về các đề tài như tôn giáo,
chính kiến, chính trị... Ra đường gặp người lạ hỏi điều gì, cần trả lời ngắn
gọn, không bình luận. Nhưng nếu cứ im lặng mà đi là rất bất lịch sự. Tuy nhiên
nếu gặp lại người đó ở một bữa cơm, bữa tiệc do chủ nhà cùng mời đến, thì lại
cần thể hiện sự quan tâm đến người đó, nói chuyện, trao đổi ý kiến, kể cả trao
đổi số điện thoại, địa chỉ... Như vậy, tùy theo môi trường khác nhau mà cách xử
thế của chúng ta cũng thay đổi cho thích ứng với hoàn cảnh lịch sự cụ thể.
Cách
xử thế của mỗi cá nhân trong giao tiếp xã hội được hình thành trong quá trình
phát triển lịch sử lâu dài hàng ngàn năm tiến hóa của nhân loại và ngày càng
tiến bộ, văn minh hơn. Nó gắn với nền văn minh của từng thời đại với đặc điểm
văn hoá từng dân tộc, khu vực dân cư và có tính lịch sử cụ thể. Các biểu hiện
của cách xử thế mang tính dân tộc, tính giai cấp, lái gắn với tính chất giới
(nam nữ) với tuổi tác (già trẻ). Nó chịu ảnh hưởng của nghề nghiệp, địa vị xã
hội và cũng mang đặc điểm cá tính, cá nhân.
Phép
lịch sự chính là một tổng hợp các nghi thức được biểu hiện ra trong cách giao
tiếp với người xung quanh. Những nghi thức đó không phải là những ứng xử máy
móc mà những hành động linh hoạt, nhiều vẻ, gắn với hoàn cảnh, môi trường cụ
thể, tuỳ theo đối tác gặp gỡ. Nó nói lên cách xử thế của mỗi cá nhân trong các
trường hợp giao tiếp khác nhau.
Lấy
ví dụ về lời chào hỏi khi gặp gỡ người quen, chúng ta chào chứng tỏ mình đã
nhận ra họ, kèm theo lời chào có thể là bắt tay, mỉm cười hay theo phong tục
Châu Âu, có thể ôm hôn nếu hai bên tình cảm gắn bó, thân mật.
Lời
chào hỏi liên quan đến những quy ước nhất định, chịu ảnh hưởng của những đặc
điểm văn hóa dân tộc, đặc biệt có liên quan đến địa vị xã hội của hai người. Nó
được thể hiện như sau: theo tuổi tác người trẻ chào người già trước, theo địa
vị xã hội người có địa vị thấp chào trước người có địa vị cao hơn, kết hợp hình
thức chào với mức độ thân mật và gắn với đặc điểm văn hóa dân tộc: nắm tay
nhau, bá vai, vỗ vai nhau, ôm hôn... cũng như thời gian gặp gỡ, mới gặp hay lâu
ngày rồi, với môi trường gặp gỡ ở ngoài phố, nơi công cộng hay tại gia đình, ở
ngoài phố cần kín đáo hơn, ở gia đình thân mật, cởi mở hơn. Mục đích và ý nghĩa
của lời chào hỏi chính là chúng ta tự đặt mình trong hệ thống của cách xử thế
đã được quy định và được xã hội chấp thuận.
Khi
muốn thiết lập mối quan hệ giữa những người hoàn toàn xa lạ nhau, thì lời giới
thiệu của người thứ ba là rất cần thiết. Những lời giới thiệu về tên tuổi, chức
danh địa vị xã hội cho phép hai người gặp nhau lần đầu đi vào quan hệ với nhau
với những rủi ro thấp nhất và tuân theo những quy ước chung.
Phép
lịch sự dạy chúng ta tôn trọng người khác: con người họ, tuổi tác, địa vị xã
hội, nghề nghiệp, giới tính, tài sản của họ, cuộc sống riêng tư của họ. Đó
chính là một nghệ thuật sống tế nhị và không bao giờ buộc người khác phải chấp
nhận mình một cách thô bạo (mình là người cấp trên, người tài giỏi…). Người cấp
trên, người tài giỏi tỏ ra khiêm tốn với người chung quanh, với người cấp dưới,
chủ động chào hỏi, chuyện trò với họ, chứng tỏ mình đánh giá cao đối tác có
giáo dục.
Kính
trọng ai là thể hiện sự hiểu biết, sự kính trọng và nhìn nhận những điều họ
được hưởng: kính trọng người có tuổi, kính nể địa vị xã hội của họ… Kính trọng
ai là giúp đỡ người ấy được giới thiệu theo một hình ảnh tốt và đầy đủ về bản
thân họ. Ví dụ giới thiệu người có lòng nhân ái hay giúp đỡ người nghèo, người
thương binh đã hy sinh thân mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, tỏ lòng kính
trọng giới thiệu một nhân viên cấp dưới đã hết lòng tận tuỵ với công việc...
Kính
trọng một người là kính trọng những gì thuộc về họ: không xâm phạm vào đời tư
của họ, không sử dụng những đồ vật thuộc về họ mà không được họ cho phép...
Những hình thức của sự tôn trọng này thể hiện sự tế nhị và sự dè dặt. Mỗi người
chú ý đến trật tự xã hội và tự giới thiệu một hình ảnh đúng đắn về bản thân.
Chúng
ta hiện nay đang đau đầu, khó chịu về những cử chỉ bất lịch sự diễn ra chung
quanh ta, đặc biệt ở lớp trẻ mới lớn lên, ít được giáo dục: gặp người già đến
nhà, con cái không chào, lên xe buýt, thanh niên tranh chỗ ngồi - chỗ ngồi tốt,
không nhường chỗ người già, phụ nữ có con nhỏ, ra đường chúng xô đẩy người khác
không xin lỗi, nói năng thì thô lỗ, luôn mồm chửi tục, chửi đổng, ăn mặc thì
lôi thôi, tự động nhận xét bừa bãi về người khác ở nơi công cộng... Những kẻ
bất lịch sự không chỉ thể hiện họ không tôn trọng người khác mà chính họ thiếu
lòng tự trọng, đã nêu ra một hình ảnh xấu về bản thân trước mặt người khác.
Về những mục tiêu và
nguyên tắc chỉ đạo cách xử thế và phép lịch sự:
Cuộc
sống xã hội diễn ra vô cùng phức tạp, đa dạng, những lời khuyên cho hành động
của chúng ta có vẻ như độc đoán, khó nhớ. Thực tế chúng hợp thành một tổng thể
được xây dựng trong sự gắn bó chặt chẽ với nhau.
Những
nguyên tắc chỉ đạo cách xử thế, cũng như phép lịch sự, đồng thời là những mục
tiêu nhằm đạt tới là:
Trước hết là thực hiện tốt việc xã hội hoá: Mỗi cá nhân thừa nhận và tôn trọng những quy tắc và giá
trị chung của các mối giao tiếp và liên hệ xã hội. Mỗi cá nhân tham gia, hòa
đồng vào xã hội và thích ứng được với cuộc sống cộng đồng.
Mỗi
người thừa nhận mình là một thành viên của một tập thể, một cộng đồng nhất
định, mà không phải là một cá nhân duy nhất vượt trội, sống tách biệt với người
khác. Ở đây tính xã hội vượt lên tính cá nhân. Cá nhân hòa đồng vào xã hội.
Biết
thích ứng, đó là yêu cầu cơ bản đảm bảo cho cá nhân tham gia và hòa đồng vào xã
hội. Để có thể sống với người khác và sống thoải mái với họ, cần thiết phải
thích ứng với những luật tục thông thường đang diễn ra chung quanh mình. Ví dụ
đến dự một cuộc họp, một buổi kỷ niệm cần ăn mặc chỉnh tề, nói năng lịch sự,
trong khi đến gia đình gặp người quen có thể chuyện trò vui vẻ, gọi nhau anh
chị, mày tao ... Đến dự đám tang, không ăn mặc loè loẹt, không nói chuyện ồn
ào, cần nói khẽ, nói ít, tỏ thái độ kính trọng, thương tiếc người đã mất...
Thứ hai là sự cân
bằng:
nguyên tắc điều chỉnh trật tự xã hội. Các quan hệ giao tiếp diễn ra trong sự
trao đổi, có đi có lại. Ví dụ phải đáp lại lời chào, trả lời cảm ơn việc bạn bè
mời ăn... thể hiện sự quan tâm đến nhau (người trẻ giúp đỡ người già đi lại,
người già chú ý hướng dẫn người trẻ những điều chưa biết...).
Sự
cân bằng đặt sự đồng ý trên sự đối lập, cho phép giải tỏa những xu hướng đối
lập, cũng như đáp ứng nhu cầu bình đẳng và tôn trọng lẫn nhau trong thực tiễn
xã hội: ví dụ người dưới kính nể người trên, nhưng người trên phải thể hiện sự
tôn trọng người dưới, đối xử bình đẳng, không hách dịch.
Vai
trò của sự cân bằng là đảm bảo một sự công bằng nhất định, một giới hạn nhất
định, một sự dè dặt nhất định trong trật tự xã hội. Mọi người dù cương vị xã
hội thế nào thì chỗ đứng của họ phải được thừa nhận. Các quyền lợi cũng như
nghĩa vụ của người đó, các thành viên của cộng đồng phải thừa nhận, dù họ ở địa
vị xã hội cao hay thấp.
Như
vậy mới có sự trao đổi và sự quan tâm lẫn nhau trong đối xử xã hội. Người ta
không nhận gì hết nếu không cho lại cái gì, dù là tượng trưng (thái độ kính nể,
trò chuyện bình đẳng...). Người ta cảm ơn cô bán hàng đã tiếp đón mình, trả
lời thư khi nhận được...
Sự
cân bằng đem lại cho người ta cảm giác về sự công bằng, sự bền vững và sự thoải
mái trong giao tiếp xã hội. Trái lại, những mối quan hệ không cân bằng đem lại
sự khó chịu và cảm giác danh dự, tình cảm của mình bị vi phạm (chào một người
mà họ không thèm chào lại, mời một người đến nhà chơi, họ không đến lại không
cho biết lý do, trả lời...).
Sự
hài hòa giúp cho việc thực hiện được sự cân bằng và thích ứng. Ví dụ như thích
ứng với một môi trường mới, đến nơi ở mới và thiết lập được những quan hệ láng
giềng tốt. Chú ý tạo sự cân bằng trong quan hệ với người khác (người ta giúp
mình, mình quan tâm giúp đỡ họ lại...) đó là sống hài hòa với họ.
Sự
hài hòa trong việc tự thể hiện bản thân về mặt hình thể nhu màu sắc, chất liệu
quần áo, dáng vẻ đi đứng phải phù hợp với lứa tuổi, địa vị xã hội và hoàn cảnh
cụ thể cũng có ý nghĩa quan trọng. Tránh việc người già ăn mặc lòe loẹt con gái
ăn mặc hở hang, thanh niên cởi trần, mặc quần lót đi ngoài phố. Đó là những
nguyên tắc về thẩm mỹ tối thiểu.
Sự
hài hòa cũng đòi hỏi chú ý việc quản lý thời gian (gặp nhau nói chuyện ngắn hay
dài tùy tình hình), địa điểm và cách xử sụ phù hợp với mồi trường chung quanh
(ví dụ không nên đứng giữa đường, giữa hai xe máy, nói chuyện với nhau dong
dài, nói to, cười to…).
Thứ ba là sự kính
trọng:
kính trọng người khác và tôn trọng mình, gắn bó chặt chẽ với nhau. Kính trọng
người khác, là thể hiện sự coi trọng và quý mến họ. Kính trọng người khác còn
thể hiện ở chỗ không làm gì mất mặt họ. Ví dụ nói xấu họ một cách bóng gió...
không làm cho họ lúng túng hay trở nên lo lắng. Ví dụ không hỏi ông bố ngay ở
nơi công cộng về cậu con trai nghiện hút, bỏ học, khiến người khác chú ý nghe
và ông ta lúng túng, xấu hổ. Hãy làm ra vẻ không biết sai sót, vụng về của một
người nào đó ở nơi công cộng. Ví dụ họ đang ăn cơm đánh rơi đũa, thìa ... không
nên để ý đến sự vụng về ấy của họ.
Sự
tôn trọng người khác gắn với việc tôn trọng bản thân, thể hiện việc bảo vệ danh
dự cá nhân và ý thức tự trọng. Cần chú ý từ dáng vẻ bề ngoài của mình (vẻ mặt,
cách đi đứng chững chạc, ăn mặc theo tuổi tác không lố lăng, kỳ dị) đến nơi
giao tiếp của mình.
Tự
trọng cũng là giúp người khác khi tiếp xúc với mình khỏi lúng túng (ví dụ họ
phải tiếp xúc với người ăn mặc quá nhếch nhác, nói năng thô lỗ...). Mỗi người
phải tôn trọng nếp sống chung. Ví dụ phải xếp hàng, không được vứt giấy ra
đường, không vào một địa điểm tư nhân mà không được phép...
Một
thể hiện khác của sự kính trọng là sự kín đáo trong giao tiếp xã hội. Sự kín
đáo là nguồn gốc của cách khéo cư xử đi đôi với sự đè dặt cần thiết. Đó là nghệ
thuật biết giữ gìn chỗ đứng của mình và quên đi những cái không cần thiết.
Khéo
xử, tế nhị là không làm phiền người khác, không đi sâu vào đời tư của người ta,
đồng thời lại chú ý đáp ứng những mong muốn của họ. Ví dụ họ muốn tìm chỗ ngồi,
muốn lấy một tách cà phê ở cuộc họp...
Dè
dặt là biết cách giữ gìn một khoảng cách giữa mình và người khác, đặc biệt khi
ta ít quen biết họ, không kể chuyện đời tư của mình một cách dễ dãi, không mời
đến nhà những người ít quen biết, hạn chế việc nam nữ ôm nhau nơi công cộng...
Việc
nêu lên 3 nguyên tắc cơ bản nói trên cho thấy cách xử thế và phép lịch sự không
phải là những công thức giả tạo và có phần lỗi thời như người ta nghĩ. Đó là
những phương thức cơ bản để điều chỉnh các quan hệ xã hội. Người ta đã ví các
quan hệ xã hội mà không có phép lịch sự thì như một ngôn ngữ không có văn phạm.
Nếu ngôn ngữ cho phép có những câu nói vô cùng đa dạng thì phép lịch sự đem lại
cho cách cư xử của mỗi cá nhân một sự phản ứng cơ động và sự sáng tạo phong
phú.
Từ
cách xử thế đúng đắn, lịch sự trong giao tiếp xã hội mà người ta có nhận thức
đúng đắn về bản thân và về người khác. Điều này giúp họ ngày càng trưởng thành
lên và có kinh nghiệm sống ngày càng phong phú. Cách xử thế thể hiện vốn sống
của mỗi cá nhân, sự hiểu biết của mỗi người về các quan hệ xã hội.
Nó
được tích luỹ dần dần, qua kinh nghiệm sống, qua được học tập, giáo dục, theo
tuổi tác, theo công việc xã hội đang tiến hành và hoàn cảnh riêng tư.
Tóm
lại, cách xử thế giúp con người đạt được những yêu cầu mong muốn trong quan hệ
giao tiếp, giúp xây dựng những quan hệ tốt trong gia đình, ngoài xã hội, họ làm
việc có kết quả và sống thoải mái.



Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét