Đã từ lâu, trong dân gian vẫn truyền
miệng câu thành ngữ "Công tử Bạc Liêu" để chỉ lối sống phong lưu, phóng
túng của những cậu ấm, cô chiêu xuất thân từ tầng lớp quý tộc, đại điền
chủ giàu có ở vùng đất Nam Bộ dưới thời thực dân, phong kiến. Nhân vật
làm nên linh hồn "Công tử Bạc Liêu" đó chính là Trần Trinh Huy (tên thật
là Trần Trinh Quy), sinh ngày 22/6/1900 tại làng Vĩnh Hưng, quận Vĩnh
Lợi, tỉnh Bạc Liêu, qua đời tại tư gia ngày 13/1/1974 tại Sài Gòn.
Công tử Bạc Liêu Trần Trinh Huy
Thời đó, thực dân Pháp đã ổn định về tổ chức của vùng đất thuộc
địa Nam Kỳ. Do việc phân chia lại ruộng đất đã làm nảy sinh rất nhiều
đại điền chủ ở vùng đất này. Thời đó dân gian đã có câu "nhất Sỹ, nhì
Phương, tam Xường, tứ Trạch" để chỉ 4 vị đại điền chủ giàu có nhất vùng
đất Nam Kỳ. Theo phong trào khi ấy, các đại điền chủ, hào phú quyền quý
khắp Nam Kỳ thường cho con lên Sài Gòn học ở các trường Pháp, thậm chí
du học bên Pháp. Tuy nhiên, hầu hết các vị công tử giàu có này, ảnh
hưởng bởi sự phồn hoa đô hội, sẵn tiền, nên thường đi vào con đường tay
chơi để thể hiện mình. Trong số vị công tử ấy, không ai đủ sức xài tiền
như các công tử Bạc Liêu. Thành ngữ "Công tử Bạc Liêu" có từ lúc ấy. Về
sau, thành ngữ này chỉ dùng để chỉ công tử Trần Trinh Huy vì chẳng công
tử nào sánh kịp về khả năng tài chính và độ phóng túng. Từ đó "Công tử
Bạc Liêu" trở thành danh xưng riêng của Ba Huy, không một ai có thể
tranh chấp.
Ngoài ra, Trần Trinh Huy còn được gọi bằng nhiều tên khác như Ba Huy,
Hội đồng Ba (cách gọi của tá điền), Hắc công tử (do nước da ngăm đen và
để phân biệt với Bạch công tử Mỹ Tho-Tiền Giang), trong một gia đình
đại điền chủ giàu có vào bậc nhất, nhì vùng đất Nam Bộ thời kỳ đầu thế
kỷ XX. Cha của Công tử Bạc Liêu là Trần Trinh Trạch (hay còn gọi là Hội
đồng Trạch)-chủ sở hữu 74 sở điền với 110.000 ha đất lúa ruộng, gần
100.000 ha ruộng muối, vài chục căn phố lầu ở Bạc Liêu và nhiều biệt thự
sang trọng ở Cần Thơ, Sài Gòn, Vũng Tàu, Đà Lạt....
Cuộc đời thật Trần Trinh Huy
Sau 3 năm dùi mài học tập ở Pháp quốc đã không mang về cho gia tộc
Trần Trinh một học hàm, học vị nào cả. Công tử Bạc Liêu về nước, hành
trang của ông ta là kinh nghiệm nhảy đầm, lái xe và một bầu tâm sự ngày
đêm thương nhớ cô vợ đầm và đứa con còn gửi nơi kinh thành ánh sáng
Paris. Về nước, Ba Huy có nhiều bà vợ Việt và hàng lố nhân tình nữa. Bà
đầu tiên mà Ba Huy cưới tại Bạc Liêu tên Ngô Thị Đen. Bà này ở với Ba
Huy sinh được người con gái là cô Hai Lưỡng. Sau cô hai Lưỡng qua Pháp
sống. Từ năm 1945, Ba Huy lên Sài Gòn ở hẳn, ông đi chơi ở Mỹ Tho rồi
cưới cô Nguyễn Thị Mẹo sinh được 4 người con, đặt tên Hiếu, Thảo, Nhơn,
Đức. Bà cuối cùng là một "hoa khôi chân đất" tên là Bùi Thị Ba làm nghề
gánh nước mướn. Bà này rất đẹp, nhỏ hơn cậu Ba 40 tuổi. Khoảng năm 1968,
cậu Ba ở căn phố đường Nguyễn Du-Sài Gòn. Mỗi sáng đứng trên lầu nhìn
xuống thấy có nhỏ con gái gánh nước qua lại đẹp quá, cậu Ba đem lòng cảm
mến. Hỏi thăm thì được biết cô gái đó là con ông già làm nghề sửa xe
đạp. Cậu Ba tìm đến đặt vấn đề liền, xin đổi căn nhà đang ở lấy cô gái.
Từ đó người đẹp gánh nước mướn trở thành phu nhân của Hắc công tử, thủy
chung đến ngày ông nhắm mắt. Hai người có với nhau hai cậu con trai và
hai cô con gái là Hoàn, Toàn và Trinh, Nữ. Ngoài những bà "chánh thức"
vừa kể, những bà “bên lề” và tình nhân thì không sao kể hết. Bên cạnh
lối sống phóng túng, phong lưu, cậu Ba Huy cũng là người nhân hậu, sống
có tình, có nghĩa, rất rộng rãi, sẵn sàng giúp đỡ người nghèo khi họ gặp
hoạn nạn. Tá điền không thấy ông đòi nợ ai bao giờ, ai nghèo quá, năn
nỉ ông còn bớt lúa ruộng. Cho nên tá điền ít ai oán ghét Ba Huy. Trong
các mối quan hệ xã hội, Ba Huy không sống dè dặt, mưu toan, tính toán
thiệt hơn. Trong con mắt giới giang hồ tứ chiếng thời đó, Ba Huy được
coi là người "ngon" nhất Nam Bộ không phải bởi cái vẻ hào hoa, sang
trọng bên ngoài mà bởi sự khoáng đạt, phóng túng trong cách sống. Trong
con mắt người Pháp, Ba Huy được nể trọng vì lấy được vợ đầm và mướn
người Pháp làm công cho mình.
Những giai thoại về Công tử Bạc Liêu
Ông Trạch giao cho Ba Huy việc trông coi điền sản. Đi đòi nợ các
tỉnh, Ba Huy dùng chiếc Ford Vedette, còn đi chơi ông có chiếc Peugeot
thể thao, sản xuất năm 1922. Loại xe đó cả miền Nam khi ấy chỉ có hai
chiếc, chiếc kia là của vua Bảo Đại. Ba Huy còn thuê một người Pháp làm
công cho mình. Đó là ông Henri Espérinas (em rể), chồng cô Tư Nhớt. Ông
này làm quản lý, điều hành gia sản cho ông Hội đồng Trạch, dưới quyền Ba
Huy. Theo hợp đồng, quản lý được hưởng 10% trên tổng số lợi tức thu
được hàng năm. Chính vì vậy ông Henri mới bỏ "mẫu quốc" qua làm mướn cho
bên nhà vợ, mãi đến tháng 4/1975 mới về nước. Một sự kiện chấn động cả
nước khi đó là Ba Huy đi thăm ruộng bằng máy bay. Và lúc ấy cả Việt Nam
cũng chỉ có 2 chiếc là của Công tử Bạc Liêu và của vua Bảo Đại. Một lần
bay qua thăm điền Rạch Giá, Công tử Bạc Liêu hứng chí bay ra biển Hà
Tiên chơi, cứ bay mải miết cho đến khi kim báo xăng không còn nhiên
liệu, buộc lòng Ba Huy phải đáp khẩn cấp. Xuống đất, Ba Huy hoảng hốt
biết mình đã bay sang tận Thái Lan. Trần Trinh Huy bị nhà cầm quyền Thái
Lan bắt giữ và phạt 200.000 giạ lúa. Ông Hội đồng Trạch phải cho một
đoàn ghe chở lúa thật dài qua tận Thái Lan để chuộc quý tử. Ông là người
Việt Nam đầu tiên sở hữu máy bay tư nhân và sân bay tư nhân. Ba Huy
sinh hoạt cực kì sang trọng và xa hoa. Ra đường là đóng bộ veston, thứ
hàng đắt tiền nhất thời đó. Thói quen của Ba Huy là ăn sáng kiểu Tây,
trưa ăn cơm Tàu, chiều ăn cơm Tây. Mỗi lần từ Bạc Liêu đi Sài Gòn là ông
ta ngồi trên chiếc xe cáu cạnh, có tài xế lái. Khi lên Sài Gòn ít khi
Công tử Bạc Liêu ở ngôi biệt thự gia đình mà vào một trong những khách
sạn nổi tiếng sang trọng ở Sài Gòn. Có khi hứng chí đi dạo mát , Ba Huy
thuê cả chục chiếc xe kéo, ông ta ngồi một chiếc, những chiếc còn lại
chở những món đồ như mũ, gậy...
Một sự kiện đã tạo thành giai thoại Công tử Bạc Liêu là năm
1929, Bạch công tử (BCT) lập luôn hai gánh cải lương là Phước Cương và
Huỳnh Kỳ, mời hai cô đào tài sắc thời đó là cô Năm Phỉ và cô Bảy Phùng
Há về thủ vai chính cho hai đoàn. Một lần, đoàn Huỳnh Kỳ có cô Bảy Phùng
Há về Bạc Liêu diễn, BCT mời Hắc Công Tử (HCT) đi xem. Đang xem, BCT
móc thuốc hút, vô ý làm rớt tờ giấy con công (giấy bạc 5 đồng thời đó),
BCT gạt chân HCT kiếm. HCT thấy vậy hỏi: Toa kiếm gì vậy?. Kiếm tờ con
công. HCT mỉm cười nói: Để moa đốt đuốc cho toa kiếm. Nói rồi HCT móc tờ
giấy bạc bộ lư (mệnh giá 100 đồng) châm lửa soi cho BCT kiếm (thời đó
lúa chỉ có 8-9 cắc một giạ). Bị một vố quá mạng, vãn tuồng, BCT nói: Toa
chơi moa một cú đau quá. Bây giờ nếu toa ngon, toa với moa cân mỗi
người ký đậu xanh, rồi lấy tiền nấu, ai sôi trước người ấy thắng? HCT
đâu chịu thua. Tối hôm sau, HCT cho trải thảm đỏ từ ngoài cổng vào tận
thềm nhà (nay là Bảo tàng tỉnh Bạc Liêu), cứ mỗi thước cho một gia nhân
cầm đuốc soi đường, nghinh đón phái đoàn của BCT. Hai nồi đậu xanh được
nhắc lên bếp, hai chàng công tử lấy tiền ra đốt. Nồi đậu xanh của BCT
hôm đó sôi trước.
Ba Huy cũng là một kẻ mê cờ bạc, có những khi ông ta
đánh một cây bài 30.000 đồng, trong khi lúa chỉ 1,7 đồng một giạ, lương
của Thống đốc Nam Kỳ chưa tới 3.000 đồng một tháng.
Về thăm Khách sạn Công tử Bạc Liêu
Có một địa chỉ mà bất cứ du khách nào khi đặt chân về Bạc Liêu cũng
muốn tìm đến, nghỉ một đêm cho biết. Đó là Khách sạn Công tử Bạc Liêu.
Khu nhà cổ tọa lạc ở 13 Điện Biên Phủ, phường 3, thị xã Bạc Liêu-Bạc
Liêu là nơi gia đình ông Trần Trinh Huy từng trú ngụ. Ngôi nhà được xây
dựng năm 1919 do kỹ sư người Pháp thiết kế và xây dựng. Nhà có tất cả 2
tầng. Tầng trệt gồm 2 phòng ngủ, 2 đại sảnh. Chính giữa là cầu thang lên
lầu trên gồm 3 phòng ngủ, 2 đại sảnh, phòng ở hướng đông bắc là phòng
của ông Trần Trinh Trạch, phòng đối diện là phòng của Công tử Bạc Liêu
Trần Trinh Huy. Đây là căn nhà được coi là bề thế nhất không chỉ ở Bạc
Liêu mà cả lục tỉnh Nam Kỳ lúc bấy giờ. Từ đó đến nay, gần một thế kỷ
qua, căn nhà gần như vẫn giữ được những nét cơ bản của nó. Năm 2003,
Công ty Du lịch Bạc Liêu đã đầu tư tu sửa căn nhà nhằm đưa vào kinh
doanh văn hóa du lịch. Hiện nay Nhà hàng-Khách sạn Công tử Bạc Liêu được
thiết kế 10 phòng nghỉ. Nhà hàng - Khách sạn
Công tử Bạc Liêu hiện nay được rất nhiều người dân Bạc Liêu nhất là
những đôi uyên ương chọn làm tiệc cưới. Tuy nhiên do qua nhiều giai đoạn
lịch sử khác nhau mà vật dụng trong gia đình đã thất lạc rất nhiều,
nhưng với những gì còn sót lại và được bảo quản như hiện nay cũng đủ nói
lên được sự giàu có của gia đình ông Hội đồng Trạch lúc bấy giờ.

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét