KHỦNG HOẢNG KINH TẾ
Trong
thời kỳ Thái Lan đang diễn ra tình trạng “nền kinh tế bong bóng”, phần
lớn mọi người đều say sưa với việc kiếm tiền để thực hiện giấc mộng
làm giàu nhanh chóng mà không hề bận tâm về một sự thật rằng mọi sự
tăng trưởng không dựa trên cơ sở thực lực của nền kinh tế, mà dựa vào
sự thổi phồng thì trước sau nó cũng bị tan vỡ như bong bóng xà phòng.
Vào
tháng 2 năm 1991, tôi được mời đến nói chuyện tại một cuộc hội thảo do
hiệp hội bất động sản tổ chức tại khách sạn Dusit về đề tài “Sự tăng
trưởng kinh tế và tương lai của các khu công nghiệp”. Tôi đã nhắc nhở
mọi người về nguy cơ kinh tế phát triển quá nóng, rằng chúng ta không
nên biến mình thành những con thiêu thân, mà nên thận trọng trong việc
đầu tư. Ý kiến của tôi đã làm không ít người phật lòng.
Lúc
đó Thái Lan đang ngây ngất trước làn sóng người nước ngoài đổ xô vào
mua bất động sản rầm rộ tạo ra nhu cầu giả tạo, nhiều nhà đầu cơ, cả cũ
lẫn mới, trở thành triệu phú chỉ qua một đêm. Một số người đã giàu lại
càng giàu thêm, một số mới vào nghề thì nay nở mày nở mặt, trong khi
thực chất thị trường bất động sản lúc đó cung đã vượt cầu.
Đầu
tư nước ngoài vào lĩnh vực công nghiệp và thị trường chứng khoán cũng
có xu hướng tăng mạnh vì có nguồn vốn từ các nhà đầu tư Hồng Kông và
Đài Loan, những người đầu cơ kiếm lời từ thị trường bất động sản mà
không có mục đích đầu tư thực sự, lâu dài tại đây, kết hợp với việc
Vương quốc Anh phải trao trả Hồng Kông về Trung Quốc vào năm 1997, làm
cho nhiều người giàu có tại Hồng Kông không yên tâm về tương lai của
mình nên đã tìm cách “di tản” trước bằng cách chuyển vốn đầu tư ra nước
ngoài.
Do
vậy, bất kể là người Úc, Canada, Mỹ hay Thái Lan đều được hưởng lợi từ
sự kiện này. Ngoài ra, còn có thêm một nguồn bổ sung nữa, đó là những
người giàu có tại Đài Loan, những người không yên tâm về tình hình an
ninh tại xứ sở của mình do bị Trung Quốc lục địa không ngừng đe dọa,
nên cũng chuyển vốn ra ngoài.
Ngay
cả Mỹ cũng hồ hởi mở cửa chào đón những người Châu Á mang tiền của vào
nước họ, bằng cách nới lỏng chính sách nhập cư, nếu ai có tiền gửi
ngân hàng hay đầu tư vào Mỹ vài triệu đô la là cho nhập quốc tịch ngay.
Qua đó, tại Châu Mỹ, cả Bắc Mỹ lẫn Nam Mỹ đâu đâu cũng thấy người da
vàng tóc đen.
Thái
Lan là xứ sở mà lâu nay người Hoa từ Hồng Kông và Đài Loan xem là một
thiên đường, vì Thái Lan đất rộng người thưa, giàu tài nguyên, đất đai
phì nhiêu màu mỡ, người Thái dễ tính, rộng lượng và mến khách. Các thế
hệ trước của người Hoa đến Thái Lan sinh sống lập nghịệp đều có cuộc
sống ổn định và thành đạt.
Do
đó, có nhiều người Hoa đến đây tìm cách để nhập quốc tịch Thái,nhưng
đây là việc không dễ làm vì quy định nhập tịch Thái rất nghiêm ngặt,
lắm người mất nhiều tiền của để chạy chọt và phải chờ đợi có khi đến
hàng chục năm mà vẫn không được nhập quốc tịch. Vì “hạn ngạch nhập
tịch” hàng năm - do Bộ Nội vụ ban hành - rất hạn chế.
Tất
nhiên, ở đâu có luật lệ “hạn chế”, “xin-cho” thì ở đó dễ sinh ra tệ
tham nhũng, hối lộ của một số quan chức để kiếm chác bỏ túi riêng. Một
số người nước ngoài chờ mãi không nhập được quốc tịch Thái nên đã sang
nước khác.
Trong
những năm 1988 -1991 đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực công nghiệp tăng
rất nhanh, đặc biệt là đầu tư vào các khu công nghiệp. So sánh các số
liệu về cấp phép đầu tư của Cục quản lý Khu Công nghiệp Thái Lan (IEAT)
và của Ủy ban Khuyến khích Đầu tư Thái Lan (BOI), thì trong thời gian
này số lượng giấy phép do IEAT cấp tăng gấp 7 lần so với số giấy phép
do BOI cấp, mặc dù đồ thị tăng trưởng đầu tư nước ngoài không ngừng
tăng lên. Nhìn vào tỷ lệ 7:1, có thể thấy sự mất cân đối giữa sản xuất
công nghiệp và thị trường. Từ đó tôi cho rằng đầu tư nước ngoài có thể
không tăng trưởng ổn định và dễ chịu tác động của những biến động khó
lường trên thế giới.
Vì
vậy, trong cuộc hội thảo lần đó tôi đã báo động rằng nếu cứ kéo dài
tình hình mở rộng các khu công nghiệp một cách tràn lan như hiện nay,
thì trong vòng 3 đến 5 năm nữa Thái Lan sẽ bị thua lỗ vì diện tích khu
công nghiệp bị bỏ trống nhiều. Tất nhiên, có người cho rằng lời cảnh
báo của tôi chỉ nhằm mưu lợi riêng mà thôi. Lúc đó, người ta đua nhau
lập khu công nghiệp khắp nơi, từ các tỉnh xa như Kanchanaburi,
Saraburi, Prachinburi, Ayudhaya đến Pichit hay Rachburi, kể cả tại vùng
Đông Bắc, tính chung cả nước có đến gần 60 khu công nghiệp, vùng công
nghiệp và cụm nhà máy xây dựng sẵn, của cả nhà nước lẫn tư nhân.
Lúc
đó Amata đang có tiếng tăm lừng lẫy, có nhiều đoàn các nhà đầu tư khắp
nơi, từ Kanchanaburi, Udorn Thani, Pichit, Chiêng Rai, Saraburi… lũ
lượt kéo nhau đến tham quan để học tập kinh nghiệm xây dựng khu công
nghiệp. Ai cũng hỏi tôi làm thế nào để xây dựng khu công nghiệp nhằm
phát triển kinh tế tại địa phương…
Tôi
trả lời họ muốn thành lập khu công nghiệp thì yếu tố đầu tiên là khu
công nghiệp đó phải có vị trí tốt, giao thông thuận tiện, nằm gần cảng
biển, sân bay, gần các thành phố lớn với đầy đủ các hệ thống hạ tầng
công cộng, bảo đảm sinh hoạt và đời sống của dân cư, đặc biệt phải bảo
đảm có đủ năng lượng… nếu không hoạt động của khu công nghiệp sẽ khó
thành công, hoặc gặp rủi ro lớn.
*****
Điều mà tôi muốn nhắn nhủ tất cả các nhà đầu tư đến tham quan là họ
cần hết sức quan tâm đến vấn đề thị trường. Việc thành lập các khu công
nghiệp phải xuất phát từ nhu cầu của thị trường, chứ không phải có đất
trong tay là làm khu công nghiệp.
Nhưng
hình như chẳng có ai nghe lời khuyên của tôi, vì tình hình kinh tế thế
giới và môi trường đầu tư trong nước lúc đó đang rất sáng sủa. Hậu quả
sau đó là gì, bạn biết không? Tất cả các nhà đầu tư đến Amata tham
quan trong thời gian đó đều không thành công và bị thua lỗ nặng nề
trong việc kinh doanh xây dựng khu công nghiệp do mắc phải sai lầm mà
tôi đã cảnh báo.
Lời
khuyên của tôi đối với họ là chân thành, hoàn toàn không phải vì ích
kỷ hay vì động cơ muốn giành độc quyền kinh doanh. Tôi luôn quan niệm
“cơ hội là do trời cho” ai cũng có quyền ngang nhau để giành lấy cơ hội
và “tự mình” đem lại thành công. Không những đối với người lạ, mà đối
với người quen biết, như các nhà đầu tư tại tỉnh Kanchanaburi quê
hương, tôi cũng khuyên họ như vậy.
Sau
khi họ mời tôi đi xem địa điểm sẽ xây dựng khu công nghiệp tại huyện
Tha-muông, tỉnh Kanchanaburi tôi góp ý với họ rằng các nhà đầu tư nước
ngoài đầu tư vào khu công nghiệp chủ yếu làm hàng xuất khẩu, do đó
triển vọng thành công của khu công nghiệp ở đấy rất ít vì vị trí hẻo
lánh, rất xa cảng biển, không có sân bay, giao thông bất tiện, trong
khi chính sách ưu đãi đầu tư ở đây cũng chẳng khác gì so với các vùng
ven biển, hay tại khu công nghiệp phía Đông nên khả năng thu hút đầu tư
rất thấp.
Nhưng
nhiều người không tin lời tôi vì địa phương của họ là nơi tập trung
các nhà máy đường, chế biến bã mía, nhà máy chế biến bột sắn và nhà máy
xay xát gạo, mặc dù tôi nói với họ rằng các ngành này không phải mục
tiêu chính của các nhà đầu tư nước ngoài định hướng xuất khẩu, còn ai
muốn làm khu công nghiệp thì hãy chờ khi nào cảng nước sâu Thavai bên
phía Myanmar làm xong thì khi đó may ra Kanchanaburi mới trở thành địa
điểm thích hợp cho xuất khẩu. Nói vậy chứ tôi thấy còn lâu người ta mới
xây cảng Thavai, vì tình hình Myanmar bất ổn, nội chiến liên miên giữa
người Miến với các dân tộc Karen và các dân tộc thiểu số khác.
Dù
tôi can ngăn thế nào họ vẫn không nghe, thậm chí còn bảo tôi không
nhiệt tình với quê nhà, buộc tôi cuối cùng phải im lặng. Còn họ vẫn cố
lao vào đầu tư hàng trăm triệu bạt để xây dựng hạ tầng khu công nghiệp
và các công trình khác nhằm thu hút các nhà đầu tư. Đến nay, đã hơn 10
năm trôi qua mà chẳng có nhà máy nào được xây dựng, khu công nghiệp
biến thành bãi đất trống rất lãng phí, còn nhà đầu tư trở thành con nợ
của ngân hàng với những khoản nợ hàng trăm triệu bạt, không kể số vốn
họ bỏ ra.
Tình
trạng trên không phải chỉ có ở Kanchanaburi mà còn ở nhiều địa phương
khác như báo chí thường xuyên phản ảnh, kể cả tại vùng Đông Bắc Thái
Lan. Có lần tôi được mời đến nói chuyện với hiệp hội công nghiệp tỉnh
Udorn Thani về khả năng mở cửa với các nước Đông Dương mà mọi người cho
rằng đây là thị trường lớn và có khả năng thông thương qua đường biển
phía Việt Nam.
Chuyến
đi đó giúp tôi hiểu rõ về vị trí và điều kiện của tỉnh UdornThani và
giải thích cho họ về những yếu tố cơ bản cần có để xây dựng khu công
nghiệp thành công. Nhưng rút kinh nghiệm lần trước, lần này tôi không
can ngăn họ mà giữ phương châm “im lặng là vàng”.
Đến
bây giờ, hơn 10 năm trôi qua mà mọi chuyện vẫn cứ dẫm chân tại chỗ.
Khu công nghiệp ở đây trống vắng như một bãi tha ma. Điều đó cho thấy
các doanh nhân Thái Lan tuy tiếp cận được các thông tin dữ liệu nhưng
còn thiếu sự phân tích và hiểu cặn kẽ bức tranh của thế giới thực dẫn
đến bị hoa mắt hay có mắt như mù… nghĩa là không ai can ngăn được, nhất
là trong lúc thị trường đang lên, không khí lạc quan bao trùm.
Ngay
cả khu công nghiệp Amata đang làm ăn tốt, thế mà đùng một cái cuộc
chiến Iraq lần thứ nhất (1991) nổ ra khiến công việc kinh doanh bị đình
trệ ngay lập tức, không khí trở nên im ắng vì chúng tôi chẳng bán được
một lô đất nào. Để tránh rủi ro lớn, chúng tôi phải phân chia khu đất
thành nhiều giai đoạn, mỗi giai đoạn chỉ làm một ít, khoảng trên 100 ha
và việc mua thêm đất tiến hành từng bước một. Mặc dù thận trọng trong
đầu tư và chi tiêu, nhưng chúng tôi vẫn không tránh khỏi tổn thất khi
tình hình kinh tế đi xuống.
*****
Cuộc sống hàng ngày của tôi chủ yếu dành để tháo gỡ, tháo gỡ và tháo
gỡ những vấn đề phát sinh không ngừng trong công việc, nào là giá mua
đất lên cao quá khiến việc kinh doanh không có lời, nào là chuyện tiền
vốn, khách hàng, hết chuyện này đến chuyện khác luân phiên ập đến không
lúc nào nguôi.
Qua
hơn 10 năm làm khu công nghiệp, tôi nghiễm nhiên trở thành một chuyên
gia “tháo gỡ”, phần lớn các vấn đề gặp phải tôi thường nghĩ ra ngay
cách giải quyết chỉ trong vòng 10 phút, gặp trường hợp bí quá tôi xin
khất đồng nghiệp cho thêm thời gian để suy nghĩ, sau đó quay trở lại
giải quyết, không có chuyện bỏ dở hay “để lâu… hóa bùn”.
Tôi
coi mọi vấn đề phải đương đầu như những cuộc thử sức xem mình có đủ
bản lĩnh và năng lực để chiến thắng nó hay không, từ đó tôi cảm thấy
vui sướng khi mình là người chiến thắng, đánh bại thách thức đó.
Bên
cạnh việc tích lũy kinh nghiệm làm khu công nghiệp, cũng đồng thời là
tích lũy “công nợ”, thời gian đó cá nhân tôi mang nợ gần 500 triệu bạt
do tăng vốn của Amata, mua căn hộ tại khu nhà Prompong, xây dựng tòa
nhà văn phòng Kromadit, nghĩa là tiền dùng chủ yếu để đầu tư kinh
doanh, còn chi tiêu cho sinh hoạt, mua sắm thì không tốn bao nhiêu vì
tôi vẫn giữ nếp sống tiết kiệm, không tiêu pha phung phí.
Nguyên
nhân làm tôi luôn hăng hái lao vào kinh doanh mà không hề giảm tốc độ
là vì các dự án triển khai rất thành công, trong công ty có nhiều cổ
đông tiềm lực lớn tham gia như Ngân hàng Nông nghiệp Thái Lan và Cathay
Trust khiến việc huy động vốn dễ dàng. Thời kỳ đó, Amata đang làm ăn
phát đạt, muốn vay tiền ở đâu và bao nhiêu cũng được đáp ứng. Tuy vậy,
chính sách tài chính của công ty rất thận trọng, vì bản thân tôi cũng
như gia đình vốn sống rất đơn giản, tiết kiệm. Vậy mà khi nổ ra cuộc
khủng hoảng kinh tế, chúng tôi cũng không khỏi lao đao.
Cơn
bão tài chính “Tom Yam Kung” xảy ra vào năm 1997, chỉ sau một năm
Amata đã mắc nợ hơn 4 tỷ bạt, nợ ngoại tệ 20 triệu USD, nhà máy điện
Amata Power nợ 150 triệu USD và hơn 2 tỷ bạt, nợ của cá nhân tôi 500
triệu bạt, trong khi đó đất khu công nghiệp không ai mua, tình cảnh
thật khốn đốn.
Tôi
đã kiểm soát chặt chẽ mọi chi tiêu và đình chỉ mọi hạng mục công trình
xây dựng trong khu công nghiệp, chỉ làm những cái thật cần thiết để
duy trì hoạt động, như duy tu bảo dưỡng. Hàng tháng công ty chỉ chi ra
mà không có thu vào, giống như máu chảy mà không cầm được. Lúc đó tôi
đành phải tạm đình chỉ thanh toán tiền nợ các nhà thầu xây dựng, chỉ có
lương nhân viên là vẫn bảo đảm trả đều hàng tháng.
Tiếp
theo, chúng tôi phải hạ mức lương, bắt đầu mức cao nhất là tôi 30%,
rồi giảm dần xuống mức thấp nhất là 5%, trừ những nhân viên có mức
lương dưới 10.000 bạt không bị hạ lương. Ông Chavalit phải ký cả séc cá
nhân rút tiền trả tiền lương cho nhân viên. Hai chúng tôi không nhận
lương suốt 6 tháng. Trước tình cảnh đó, tôi vốn dĩ là người nhạy bén,
phản ứng nhanh cũng trở nên chậm chạp, chưa biết phải xoay sở ra sao.
Làm thế nào khác được trước tình cảnh cả nước (giống như một đại gia
đình) đang bị lâm nguy, đứng trước nguy cơ phá sản, bốn phương tám
hướng đều mù mịt.
Tôi
gọi điện cho ông Nitporn, Công ty Italian-Thai, nói rằng khoản chi phí
xây dựng gần 500 triệu bạt mà Amata còn nợ bên đó, có lẽ tôi không còn
khả năng thanh toán nữa, họ có thể đến lấy đất trừ vào nợ, vì Amata
sắp bị phá sản, nếu may mắn thì sau này hai bên tiếp tục làm ăn với
nhau. Không chỉ riêng tôi, lúc đó hầu như ai cũng xuống tinh thần, mất
ăn mất ngủ không còn tỉnh táo.
Cứ
mỗi lần tôi tham dự buổi giao lưu tiệc tùng nào gặp bà Chada, lãnh đạo
Ngân hàng Nông nghiệp Thái Lan, là bà đều nhắc tôi trả tiền lãi vay
của ngân hàng.Nếu bà biết rằng tôi phải chạy vạy vay nóng với lãi suất
20% để thanh toán tiền lương cho nhân viên hàng tháng chắc bà sẽ thông
cảm với tôi hơn.
*****
Tôi nói với các chủ nợ ngân hàng rằng đừng lo lắng, đừng gọi điện
thoại cho tôi, tôi sẽ dần dần trả nợ cả vốn lẫn lãi cho mọi người khi
tình hình được cải thiện, tôi sẽ chẳng trốn đi đâu cả trừ phi tôi chết,
vì Amata là ngôi nhà do tôi xây dựng nên.
Tôi
là người luôn trung thực với bản thân, với công ty, với mọi đối tác,
với khách hàng và tất cả những người có liên quan...nên khi nói tới mức
đó thì không còn nhà ngân hàng nào nỡ lòng còn gọi điện thoại đòi nợ
nữa.
Không
chỉ có vậy… một số công ty tài chính bị phá sản đã kéo theo các chứng
thư trước bạ đất đai của Amata. Khi đó chính phủ chủ trương bán nợ cho
một số quỹ đầu tư để xử lý nợ nên tôi không biết tài sản của công ty
nằm ở đâu, trong khi tiền mặt không có.
Tôi
phải đem séc đổi lấy tiền mặt với một số bạn thân với lãi suất “hữu
nghị” là 20% (lúc đó vay tiền ngân hàng rất khó, vì bản thân ngân hàng
cũng đang lao đao, hàng loạt công ty tài chính bị phá sản với số lượng
lớn chưa từng xảy ra trong lịch sử, chỉ trừ ngân hàng Nông nghiệp Thái
vẫn trung thành, không bỏ chúng tôi trong lúc khó khăn mà vẫn cho tôi
vay thêm 50 triệu bạt).
Tôi
biết ơn ông Sombat Panicheva, trong lúc khó khăn đó đã cho tôi vay
tiền của cá nhân ông 30 triệu bạt để đáo hạn nợ Amata tại ngân hàng
SinAsia, mặc dù ông cũng đang rất chật vật. Nếu không được ông giúp đỡ
thì cổ phần của tôi có lẽ đã bị tịch thu rồi.
Tôi
phải cố gắng chịu đựng gian khổ thiếu thốn, chống chọi với những khó
khăn trước mắt trong thời gian ba năm cho đến ngày trời quang mây tạnh
trở lại.
Tin
vui bắt đầu đến kể từ ngày hợp đồng với BMW được ký kết, đem về cho
công ty một khoản tiền mặt, tuy không nhiều nhưng cũng làm cho Amata dễ
thở hơn, tinh thần của nhân viên trong công ty được củng cố do bắt đầu
có thu nhập trở lại. Tôi dùng số tiền này để chi cho những khoản thực
sự cần thiết, số còn lại tôi đem trả dần cho các chủ nợ.
Tôi
làm như vậy trong ba năm liền, cho đến khi các chủ nợ bảo không cần
đem trả gấp như vậy nữa, cứ giữ lại để dùng vì bây giờ ngân hàng đã có
dư tiền gửi rồi. Nhiều chủ nợ còn tỏ ý hài lòng vì họ đã có khách hàng
đáng tin cậy như Amata, đã cho vay thì họ có thể yên tâm không sợ mất
vốn.
Nhưng
tôi lại thấy ái ngại, vì đằng nào cũng còn nghĩa vụ phải trả nợ cho
tất cả chủ nợ. Tôi còn nhớ món nợ cuối cùng của Amata là của Ngân hàng
Nông nghiệp Thái Lan, đã được trang trải vào ngày 23 tháng 12 năm 2005.
Còn khoản nợ của riêng cá nhân tôi mới được trả hết vào tháng 8 năm
2006. Do đó tôi thấy chủ trương bảo đảm cho công ty luôn có khả năng
chi trả nợ là rất cần thiết.
Các
thử thách đó chứng tỏ tôi là người biết giữ chữ tín và có tinh thần
trách nhiệm cao nên tất cả các ngân hàng đều thừa nhận Amata là một
khách hàng uy tín, từ đó họ sẵn sàng cho vay với lãi suất thấp mà không
đòi hỏi tài sản thế chấp, vì họ tin tưởng vào người lãnh đạo công ty
và một lý do nữa là Amata đã trở thành công ty niêm yết tại thị trường
chứng khoán. Việc vay tiền thông qua hối phiếu (B/E) với lãi suất 2% mà
không cần thế chấp làm giảm chi phí quản lý rất đáng kể.
Sẽ
không quá đáng nếu tôi nói rằng đây là kết quả sống theo triết lý
“Trung thực ăn chẳng hết, gian lận sớm trắng tay”, hay “Ở hiền gặp
lành” và những nguyên tắc đạo đức khác như sự lương thiện, chân thật,
công bằng và lẽ phải. Đó là điều tôi luôn tuân theo suốt cuộc đời của
mình, nhờ đó tôi đã sống sót qua thời kỳ khủng hoảng kinh tế khu vực.
Bước
sang năm 2009, cả thế giới đang phải đương đầu với cuộc khủng hoảng
kinh tế mới, mà đối với Amata, nó giống như một cơn sóng thần thứ hai
bất ngờ ập tới, vì chúng tôi vừa mới mua thêm gần 2.000 ha đất để mở
rộng khu công nghiệp.
Cuộc
khủng hoảng kinh tế thế giới hiện nay bắt nguồn từ sự sụp đổ của nền
kinh tế bong bóng tại Mỹ. Sau khi chiến tranh lạnh kết thúc, tất cả các
nước quay sang phát triển kinh tế một cách mạnh mẽ trong suốt thời
gian 10-20 năm trở lại đây. Thế giới chứng kiến sự tăng trưởng trong
mọi lĩnh vực, dẫn đến GDP toàn cầu tăng trung bình 4-5%, điều chưa từng
có trong lịch sử.
Có
thể nói trong thời gian qua cả thế giới đều giàu có lên, việc cho vay
vốn ở khắp mọi nơi trở nên dễ dàng, đặc biệt tại Mỹ, nơi có 10 ngàn tỷ
đô la đã được cho vay, gần bằng GDP của nước này. Do vậy, quả bong bóng
Mỹ nổ tung đã gây ra cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu lớn nhất kể từ
khi xuất hiện quan hệ thương mại quốc tế cho đến nay.
Tôi,
với tư cách là thuyền trưởng của Amata, đang phải chứng tỏ mình có đủ
khả năng để lèo lái con thuyền vượt qua sóng gió lần này hay không. Tôi
đã chuẩn bị một bước từ giữa năm 2008, vấn đề hiện nay là việc mua
thêm đất gần 2.000 ha và vay nợ gần 10 tỷ bạt, cộng với dự án mở rộng
nhà máy điện công suất 800 MW với vốn đầu tư khoảng 10 tỷ bạt nữa.
Trong khi đó, 6 tháng đầu năm 2009, Amata hầu như không bán được lô đất
nào, hàng ngày chỉ có chi ra một chiều, riêng lãi suất phải trả đã
thấy đau đầu. Cho nên, tôi lại phải đội “nón bảo hiểm” để lao vào chiến
trận mới của cuộc khủng hoảng trong khi đã bước sang tuổi 56, sức lực
không còn cường tráng như trước.
Nhưng
tôi tin rằng mình sẽ vượt qua được cuộc khủng hoảng lần này nhờ vào
khả năng “miễn dịch” đã được tạo ra trong quá khứ. Vả lại, đồng đội của
tôi tại Amata cũng đã trưởng thành, vững vàng hơn. Tuy nhiên, do tác
động của cuộc khủng hoảng này quá lớn nên hiện nay tôi chỉ có thể tập
trung vào việc cắt giảm chi tiêu xuống mức thấp nhất để có thể sống sót
chờ cho cơn bão đi qua.
VIKROM KROMADIT

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét