THEO ĐUỔI ƯỚC MƠ ĐẾN CÙNG
Từ
nhỏ, tôi đã là người hay mơ mộng và luôn cảm thấy hạnh phúc với những
ước mơ của mình. Tôi nghĩ nuôi ước mơ chẳng nhọc nhằn hay tốn kém gì,
mà nó giúp tôi có trí tưởng tượng và nảy sinh ra những ý tưởng mới.
Tôi tin rằng ước mơ chính là nguồn dinh dưỡng cho sự tiến bộ của loài người.
Thời
sinh viên, có ngày tôi ngồi mơ mộng một mình tại một nhà sàn bên cạnh
hồ nước trước ký túc xá. Tôi mơ đến một ngày thành đạt, trở nên giàu
có, vinh hoa phú quý giống như các lớp đàn anh trong trường đã thành
đạt trong sự nghiệp làm công chức hay làm kinh doanh.
Tất
nhiên việc được học tại một trường đại học danh tiếng ở nước ngoài làm
tôi không tránh khỏi cảm giác tự cao, nhìn cái gì cũng cho là chuyện
nhỏ. Tôi tự nhủ nếu các lớp đàn anh đều thành đạt mà không có khó khăn
gì thì tại sao tôi lại không làm được như thế.
Tôi
ngồi đăm chiêu cho đến khi anh Hu Chang Chư, người bạn học cùng phòng
đến vỗ vào vai tôi và nói rằng đừng có mơ mộng nhiều quá mà nên tập
trung học cho xong đã. Thật ra tôi chưa bao giờ chểnh mảng trong việc
học mặc dù tôi vừa học vừa làm. Tôi chỉ dành thời gian cho việc buôn
bán hay tham quan các hội chợ vào những ngày thứ Bảy, Chủ Nhật hoặc
những kỳ nghỉ hè mà thôi.
Khi
kết quả học tập của tôi dưới 80% so với năm đầu, tôi tự bào chữa rằng
đó là do các môn học khó hơn và một số giáo viên giảng không hay nên
tôi mất hứng thú, dù sự thật là vì tôi dành thời gian và sự quan tâm
cho việc kinh doanh nhiều hơn.
Có
thể do có ước mơ và thiên hướng làm ông chủ bẩm sinh nên tôi không bao
giờ có ý nghĩ sẽ trở thành người làm công ăn lương. Từ nhỏ đến lớn tôi
luôn suy nghĩ phải xây dựng cơ nghiệp cho bản thân bằng đôi bàn tay và
cái đầu của mình, giống như các ông chủ thời xưa, mà không mảy may
nghĩ xem bản thân thích hợp nhất với công việc gì và nên bắt đầu từ
đâu.
Có
nhiều điều tôi nghĩ rằng mình biết nhưng thực ra tôi chẳng biết gì.
Tôi cứ như kẻ mò mẫm trong đêm tối. Nhưng tôi tin vào câu châm ngôn của
phương Tây: “Nơi nào có ý chí, nơi đó có con đường.” (Where there is a
will, there is a way).
Tuy
nhiên, con đường thành công luôn đầy chông gai. Đôi khi bạn cần phải
thay đổi hướng đi, cách nghĩ, phương pháp làm việc, kể cả việc xem xét
lại mục tiêu đích thực để khỏi bị lạc đường hay sa chân vào vũng bùn.
Nói theo lý thuyết quân sự là bạn cần “thay đổi chiến thuật, nhưng
không thay đổi chiến lược”.
Khi
bắt tay vào làm kinh doanh một thời gian, tôi mới thấy có nhiều mặt
tối hơn là mặt sáng, nếu không phải nói rằng mọi thứ đều tối om. Các
môn lý thuyết mà tôi đã dày công học ở trường và cho rằng mình nắm chắc
hóa ra chẳng dùng được, và cái thực tế cần thì chúng tôi chẳng bao giờ
được học. Mọi thứ đều do tôi tự nghĩ ra, không có công thức hay mô
hình nào. Điều quan trọng nữa là “không có đủ vốn dự trữ”.
Riêng
số tiền không nhiều vay của mẹ và chị họ chỉ đủ cho chi tiêu vặt hàng
ngày. Tôi không có người thân nào khác làm chỗ dựa. Tính tôi không muốn
làm phiền ai, kể cả bác Hiêng, tôi cũng không dám mở miệng hỏi vay
tiền. Anh Tháy, con trai bác Hiêng, cứ thúc tôi học tiếp ở Đài Loan
nhưng mỗi khi tôi hỏi ý kiến anh về suy nghĩ của mình, anh ấy chỉ làm
tôi nhụt chí bằng cách bàn lui: “Làm thế không được đâu, chẳng có cách
nào đâu, khó lắm!”.
Mặc
dù vậy, anh Tháy vẫn cho tôi vay 8.000 bạt để trả tiền thuê nhà tại
Hẻm 20 đường Sukhumvit. Còn nếu tôi hỏi mượn những người cùng quê thì
sẽ nhận được câu trả lời đại loại như: “Nếu khôn hồn thì trở về quê gặp
bố mày, xin vài chục mẫu đất làm ruộng thế là sống khỏe rồi, đi tìm
rắc rối mang vào mình làm gì!” Nhưng tôi hiểu rõ bố tôi và biết mình sẽ
đương đầu với cái gì nếu dám vác mặt về xin bố, đặc biệt khi tôi là
người luôn làm cho bố nổi giận.
Tôi
không ngờ khi “tập trận” thì dường như mọi thứ đều dễ dàng nhưng đến
khi “ra trận” không hiểu sao mọi thứ lại khó khăn đến thế, chẳng có
điều gì diễn ra như mường tượng của tôi cả. May là tôi có tính gan lì,
chịu khó nên thường cố chiến đấu đến cùng, chẳng khác những người bị
dồn vào chân tường. Mỗi khi gặp phải khó khăn trở ngại lớn, tôi không
bao giờ đầu hàng, khi thấy vấn đề quá sức chưa thể vượt qua, tôi tạm
thời rời trận địa trở về nhà nghỉ ngơi và tìm phương cách, đến hôm sau
tôi tiếp tục chiến đấu, và cứ như thế.
Thế
rồi cũng đến ngày những hạt mưa rơi xuống cánh đồng khô hạn, khi tôi
nhận được một đơn đặt hàng từ Nhật Bản mà đối với tôi nó giống như một
“tin nhắn” từ trên trời ban xuống. Đây là đơn đặt mua hàng mây của cửa
hàng “Nai Mươn” nằm đối diện nhà lao Klong Prêm mà tôi đã từng gửi mẫu
hàng đi khắp nơi.
Mặc
dù đơn đặt hàng không nhiều và giá trị không cao, chẳng thấm gì so với
hàng trăm thư chào hàng tôi đã gửi đi, nhưng nó đã giúp tôi nhìn thấy
tia sáng ở cuối đường hầm, dù tia sáng đó vẫn còn leo lét.
Nhưng niềm vui của tôi không kéo dài lâu. Khi đi gặp những người
nông dân làm nghề đan mây tre lúc nông nhàn, tôi thấy sản phẩm do họ
làm ra rất khó bảo đảm chất lượng, và cả kích thước lẫn hình dáng, theo
đúng yêu cầu của người đặt hàng.
Hơn
nữa, việc giao hàng cũng không bảo đảm cả về số lượng và thời gian
theo yêu cầu của khách hàng. Vì vậy cuối cùng tôi mất cả chì lẫn chài,
vừa mất hàng vừa mất tiền, mất cả thời gian và khách hàng đầu tiên của
mình một cách đáng tiếc.
Mặt
hàng thủ công mỹ nghệ thứ hai mà tôi gặp rắc rối là vòng đeo tay làm
bằng sừng trâu. Việc bảo đảm kích thước vòng đeo tay theo mẫu là rất
khó khăn do sừng trâu có kích thước không đồng đều nhau. Hơn nữa khi đi
buôn mặt hàng này, tôi phải đi đi lại lại đến cơ sở sản xuất rất nhiều
lần và phải kiên trì thương lượng giá cả theo yêu cầu của người đặt
hàng, đến nỗi có lần ông chủ sản xuất nổi ghen vì cho rằng tôi có ý
tằng tịu với vợ ông ta.
Thái
độ của ông ta làm tôi rất bực mình, vì tôi không bao giờ có ý muốn dan
díu với những người phụ nữ có chồng và tôi luôn luôn tách bạch chuyện
tình cảm với kinh doanh. Tuy nhiên sau khi ông ta bớt giận, tôi đã làm
rõ đầu đuôi câu chuyện và giải tỏa mọi mối nghi ngờ của ông ta.
Từ
sự việc này, tôi đã tự xem xét lại mình xem có những thái độ và hành
vi giao tiếp nào cần phải điều chỉnh cho phù hợp với từng hoàn cảnh để
tránh rắc rối, hiểu nhầm có thể xảy ra.
Dù
hai mặt hàng đầu tiên gặp thất bại nhưng tôi không chùn bước, tiếp tục
đi tìm kiếm mặt hàng mới. Tôi tìm chỗ ở mới kết hợp dùng làm văn phòng
công ty vì nhà bác Hiêng không tiện lợi để làm việc với khách hàng,
hơn nữa việc dùng điện thoại nhà riêng của bác cho công việc kinh doanh
cũng rất bất tiện, lại gây tốn kém cho bác ấy. Có lần, tôi đang liên
hệ để bán bột khoai mì cho công ty Mitsui của Nhật thì ông Somsak, nhân
viên của Mitsui gọi điện đến để kiểm tra. Đây là một thủ tục thông
thường trong chuyện làm ăn của người Nhật. Nhưng người nhận điện thoại
lại là bác Hiêng. Vì bác không biết gì về việc kinh doanh của tôi nên
đã tỏ ra hốt hoảng tưởng rằng tôi đi gây chuyện với ai nên đã lúng túng
không biết xử trí ra sao. Thật tội nghiệp cho bác Hiêng. Bác ấy chỉ là
một bà nội trợ hiền lành không hề biết kinh doanh là gì.
Để
có được một chỗ thích hợp, tôi phải mất gần một tháng lùng sục khắp
nơi. Cuối cùng tôi thuê căn nhà của ông bà Pipatkul, ở số 200, Hẻm 20
đường Sukhumvit, với giá thuê nhà mỗi tháng 5.000 bạt, trả trước hai
tháng. Số tiền này, như mọi khi, tôi vay của mẹ tôi.
Khi
ra riêng, ngoài tiền thuê nhà tôi phải chi nhiều khoản khác như tiền
điện, nước, điện thoại, ăn uống và nhiều khoản chi tiêu khác. Khác với
khi còn ở miễn phí nhà bác Hiêng , bây giờ mọi thứ tôi đều phải bỏ
tiền túi ra nên tôi rất tiết kiệm. Tôi tìm mọi cách để có thể đủ sống
và làm việc.
Mặc
dù mặt tiền tôi treo biển công ty xuất nhập khẩu trông rất hoành
tráng, nhưng ở sau nhà tôi là người nội trợ cho chính mình, mỗi ngày
chỉ nấu một lần cho cả ba bữa ăn. Buổi sáng và buổi trưa tôi thường ăn
cơm, buổi tối tôi cho cơm nguội vào nồi nấu thành cháo, cho thêm ít
thịt heo, cà tím và rau thơm theo công thức học được từ bà nội khi tôi
còn ở quê. Tuy vậy, mọi bữa tôi đều ăn hết nhẵn, không bỏ sót một hột
cơm hay miếng thịt, miếng rau nào.
Còn
về công việc kinh doanh của công ty, tôi vừa làm giám đốc, vừa làm
nhân viên hành chính kiêm tiếp thị, bán hàng, giao hàng, chạy giấy tờ
và cả tạp vụ. Nhưng việc tôi lo nhất lúc đó là nhận điện thoại, vì nhỡ
có khách hàng gọi điện đến trong khi tôi ra khỏi nhà hoặc đang bận tay
không kịp nhấc máy thì điều đó có nghĩa là tôi sẽ đánh mất khách hàng.
Do
đó khi ở nhà tôi luôn canh chừng tiếng chuông điện thoại, bất kể đang
làm gì, ngay cả đêm khuya tôi cũng kéo dây điện thoại vào tận đầu
giường để cố gắng giữ liên lạc 24/24, quyết không để nhỡ bất kỳ cú điện
thoại nào. Tôi cho rằng điện thoại là cánh cửa dẫn đến những cơ hội mà
tôi sẽ không để nó tuột khỏi tay mình.
Hồi
còn ở nhà bác Hiêng, tôi đi rất nhiều nơi để tìm cách xuất khẩu các
mặt hàng nông sản, vốn rất phong phú ở Thái Lan. Cách làm của tôi là đi
xe đò đến các tỉnh, từ Kanchanaburi nơi tôi sinh ra đến Suphanburi,
Lampang và cuối cùng là Chiêngmai để lấy mẫu các loại trái cây và rau
quả.
Tôi
cũng liên hệ với cơ quan xúc tiến thương mại và phòng thương mại. Qua
đó tôi có dịp làm quen với ông Thapana Bunnak, người đã cho tôi nhiều
thông tin về những khách hàng nước ngoài có khả năng mua hàng của tôi.
Tôi cũng để lại tài liệu cho phòng thương mại trong đó nêu rõ những mặt
hàng tôi có thể xuất khẩu.
Sau
một thời gian đi tìm hiểu các nơi sản xuất hàng nông sản, tôi đi đến
quyết định chọn bột sắn làm mặt hàng xuất khẩu. Đây là hàng nông sản
được nông dân các tỉnh Chonburi và Rayong sản xuất rất nhiều, gia đình
nào cũng trồng và dùng khoảnh sân trước nhà làm sân phơi.
Đến
tìm hiểu tại các nhà máy làm bột sắn, tôi biết bột sắn và tapioca là
một trong các sản phẩm xuất khẩu chủ lực của Thái Lan, khối lượng xuất
khẩu hàng năm rất lớn. Sau khi tìm hiểu kỹ mặt hàng này, tôi nhanh
chóng rời Chonburi trở về Bangkok để tìm khách hàng nước ngoài muốn
nhập bột sắn của Thái Lan, mục tiêu của tôi là Nhật Bản, nuớc nhập khẩu
bột sắn lớn nhất của Thái Lan.
Như
tôi đã nói về thông lệ làm ăn của người Nhật là thường họ tiến hành
điều tra xem xét lý lịch của đối tác rất kỹ lưỡng. Kết quả là những
công ty mới ra đời, chưa có uy tín thương mại và chưa có thành tích
xuất khẩu như công ty của tôi sẽ chẳng có cơ hội nào để nhận được đơn
đặt hàng từ các công ty Nhật. Và vì vậy, ước mơ xuất khẩu của tôi vẫn
chỉ là ước mơ.
Lúc
đó tôi cảm thấy như đang lái một chiếc xe với bình xăng gần cạn, chắc
chắn không thể chạy được xa, hơn nữa lượng “xăng” dự trữ mà tôi nghĩ sẽ
vay tiếp của mẹ cũng không còn bao nhiêu nữa. Nhìn lên phía trước, tôi
cảm thấy ái ngại, băn khoăn không biết vì sao con đường trước mặt mình
có nhiều chông gai, ổ gà, ổ voi đến thế! Dường như chẳng có cơ hội hay
con đường kinh doanh nào dành cho tôi cả!
Thực
ra, vấn đề có thể chỉ là do mới vào nghề, kém hiểu biết cùng sự thiếu
kinh nghiệm kinh doanh khiến tôi không biết nên bắt đầu từ đâu, làm gì
trước và làm gì sau. Tệ hơn nữa là tôi không biết mình đang ở đâu và
nên làm gì. Tôi cảm thấy như mình đang bị cuốn ra biển lớn mà chẳng
biết phải xoay trở thế nào, trong khi thời gian cứ vùn vụt trôi qua.
Điều
tệ hại nhất là cảm giác chân tay bị trói chặt và chính cái cảm giác
này đẩy tôi chìm dần trong một đống các vấn đề và gánh nặng chi phí tại
ngôi nhà mới thuê, chẳng khác gì lái chiếc xe vào ngõ cụt trong đêm mù
mịt, không biết sẽ thoát ra như thế nào và phải mất bao nhiêu thời
gian.
VIKROM KROMADIT

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét