BÀI HỌC KINH NGHIỆM PAUL KRAMPE
Mặc dù tin vào các câu châm ngôn “Ở hiền gặp lành” và “Ác giả ác báo” và
luôn cố gắng làm điều tốt, nhưng trong suốt cuộc đời mình, từ khi còn
ngồi trên ghế nhà trường cho đến khi ra đời làm kinh doanh sau này,
nhiều phen tôi bị người ta phản bội, tráo trở, kể cả bị ăn chặn trắng
trợn ngay trước mũi mình.
Tuy
nhiên, tôi xem tất cả những điều này là thử thách và nhắc nhở mình đừng
làm những điều tương tự với người khác vì tôi hiểu rõ nỗi đau đớn mà
nạn nhân phải gánh chịu. Tôi tin rằng những kẻ gây ác trước sau cũng
không tìm thấy sự bình yên thanh thản đích thực lâu dài.
Hàng
ngày chúng ta có thể nhìn thấy không ít người trong xã hội làm điều ác
mà không bị trừng phạt, bất kể họ là nhà chính trị, nhà kinh doanh hay
các quan chức tham nhũng, ăn cắp của công và ức hiếp dân chúng. Hiện
thời họ có thể giàu có, địa vị xã hội cao, nhưng cuối cùng thì sự thật
cũng sẽ lộ ra và đến ngày đó họ sẽ bị báo oán bởi những tội lỗi mà họ
gây ra cho người khác. Bạn thử đọc câu chuyện tôi kể dưới đây.
Bước
vào năm thứ năm hoạt động kinh doanh của Công ty V&K, mọi việc diễn
ra trôi chảy theo cơ chế thị trường và kết quả kinh doanh của công ty
ngày một khá hơn, một phần cũng vì tôi là người biết “nắm bắt cơ hội”,
bất kể nó từ đâu đến. Vì thế tôi có dịp gặp gỡ, trao đổi ý kiến với rất
nhiều người. Bất kể hiệp hội, câu lạc bộ nghề nghiệp nào tôi thấy có
ích là tôi tham gia. Những cơ hội làm ăn qua đó cũng tăng lên.
Đồng
thời, việc tăng cường tiếp xúc, gặp gỡ với nhiều người, xuất thân từ
những thành phần khác nhau, với nhận thức và trình độ học vấn khác nhau,
môi trường sống và giáo dục khác nhau nên điều không tránh khỏi là tôi
sẽ gặp cả những người tốt lẫn người không tốt. Đó là điều thường tình
trong cuộc sống.
Vấn
đề là làm thế nào để phân tích, cân nhắc xem ai là người chúng ta nên
quan hệ, ai là người nên tránh. Câu tục ngữ Thái Lan: “Chơi với tiểu
nhân, tiểu nhân dẫn đến cái xấu; Chơi với quân tử, quân tử dẫn đến cái
tốt” vẫn luôn luôn đúng, bất kể trong thời đại nào, kể cả thời đại kỹ
thuật số ngày nay.
Khi
cơ hội mở rộng hoạt động kinh doanh cá hộp ngày càng tăng, tôi phải tìm
kiếm thêm từ 3-5 nhà cung cấp mới - nhà máy chế biến - để xem sản phẩm
của họ phù hợp với loại khách hàng nào. Các nhà máy chế biến - không
giới hạn trong phạm vi cá ngừ đóng hộp - đều rất nhiệt tình hợp tác, vì
họ cũng muốn tăng doanh số và lợi nhuận, vốn là mục đích chung của mọi
ngành kinh doanh. (Không ai muốn dẫm chân tại chỗ, hay ngày càng đi
xuống, ai cũng muốn thành công ngày càng lớn hơn).
Tôi
cố gắng khảo sát nhu cầu thị trường và năng lực sản xuất của các nhà
máy chế biến mà tôi quen biết, xem họ có thể làm những mặt hàng khác mà
tôi thấy có cơ hội thâm nhập thị trường hay không. Lúc này tôi đã mở
rộng sang các loại trái cây đóng hộp, như dứa chẳng hạn.
Điều
đáng mừng là Thái Lan có nền sản xuất nông nghiệp khá, lại là nước xuất
khẩu gạo và thực phẩm đứng hàng thứ 6-7 của thế giới từ trước đến nay.
Ngoài ra, ngành công nghiệp chế biến thực phẩm của Thái Lan ngày càng
phát triển và hiện đại với lực lượng lao động Thái Lan có tay nghề cao.
Sau
khi tôi hợp tác với anh George Lin xuất khẩu cá ngừ đóng hộp và trái
cây đóng hộp sang thị trường Mỹ, tôi thấy thị trường Mỹ là thị trường có
tiềm năng lớn, nhiều cơ hội kinh doanh cả về khối lượng và giá cả. Theo
số liệu thống kê của Cục Hải quan và Bộ Thương mại Thái Lan lúc đó, số
liệu xuất khẩu thực phẩm đóng hộp sang thị trường Mỹ trước năm 1978 là
con số không.
Nhưng
trong giới kinh doanh cá ngừ đóng hộp, chúng tôi biết rất rõ cá ngừ
đóng hộp là một trong những món ăn hàng ngày của dân Mỹ, tính trung bình
một người Mỹ tiêu thụ 6 hộp/ một năm. Nếu nhân với dân số gần 300 triệu
người, thì chắc chắn Mỹ là nước nhập khẩu cá ngừ đóng hộp lớn nhất thế
giới.
Để
thực hiện chiếc lược có hiệu quả, tôi vạch ra kế hoạch sẽ đến Mỹ gõ cửa
từng khách hàng một. Thông thường việc trao đổi thư từ qua lại với mỗi
khách hàng mất rất nhiều thời gian, từ 1-2 tháng (thời đó chưa có
internet và máy fax). Nhờ có khách hàng tại chỗ là anh George Lin, ở San
Francisco, tôi có thể mở rộng mạng lưới đến các khách hàng khác tại Mỹ.
Do
vậy, tôi làm thủ tục xin visa vào Mỹ. Tôi rất hồi hợp với chuyến đi Mỹ
đầu tiên này, vì từ lâu tôi mong ước được sang Mỹ để học tiếp, một đất
nước mà tôi và các bạn học cùng lớp vẫn nghĩ rằng mặt trăng ở đó to và
sáng hơn các nơi khác trên thế giới. Nhưng cuối cùng giấc mơ du học Mỹ
đó đành phải gác lại vì không có trường đại học danh tiếng nào ở Mỹ trả
lời đơn xin học bổng của tôi.
Tôi
còn nhớ chuyến đi đó là vào tháng 7 năm 1979, thời tiết rất đẹp, suốt
hành trình bay, tôi cảm thấy trong lòng rất phấn khích, dù đây là thời
gian bay dài nhất mà tôi từng trải qua. Anh George Lin đến đón tôi tại
sân bay San Franciso và dẫn tôi đến một khách sạn nhỏ tại khu vực có
nhiều người Nhật sinh sống.
*****
Do quen tính tằn tiện nên tôi không dám đến các hiệu ăn sang trọng
mà chỉ mua thức ăn nhanh Mc Donald mang về phòng ăn qua bữa.
Do
chưa quen sự chênh lệch múi giờ (buổi tối ở Mỹ là ban ngày ở Thái
Lan), nên cứ đến nửa đêm bụng tôi lại đói cồn cào, tôi lại phải thức
dậy ăn bữa khuya mà tôi đã chuẩn bị sẵn, đúng thời gian bữa cơm trưa
tại Thái Lan.
Anh
George Lin rất tử tế và tốt bụng, đã dẫn tôi đến ăn cơm tối tại một
cửa hàng Nhật với các món hải sản rất ngon, có cả bia tươi. Đây là lần
đầu tiên tôi được ăn món ăn Nhật. Anh George giới thiệu với tôi tình
hình chung và đặc điểm của thị trường Mỹ.
Ngày
hôm sau, tôi đến văn phòng của anh và làm quen với những người thân
trong dòng họ Lin của anh. Họ là những người Đài Loan định cư tại Mỹ,
thuộc những gia đình khá giả. Do tôi nói thạo tiếng Hoa và thông hiểu
văn hóa Trung Quốc nhờ có thời gian dài học tại Đài Loan nên cuộc gặp
diễn ra rất vui vẻ và thân mật.
Tôi
có dịp gặp một khách hàng mới là ông Terry Fitzgerald, Công ty Inter
Ocean, có trụ sở tại trung tâm San Franciso. Ông là người Mỹ, trên 40
tuổi, ăn nói mạch lạc, tư duy phóng khoáng, giỏi kinh doanh. Chúng tôi
nói chuyện rất hợp ý nhau và cùng quan tâm tìm cơ hội kinh doanh xuất
nhập khẩu giữa hai bên, một lĩnh vực mà cả hai đều quen thuộc.
Terry
đã hoạt động trong lĩnh vực thực phẩm đóng hộp nhiều năm nên có nhiều
kinh nghiệm và cũng có nhiều khách hàng, đúng là những thứ tôi đang
cần. Nếu có khách hàng ở Mỹ, tôi sẽ có thêm cơ hội mở rộng thị trường
sang cả khu vực Bắc Mỹ và Canada. Vì vậy, chúng tôi thỏa thuận ông
Terry sẽ chịu trách nhiệm tìm kiếm thị trường tại Mỹ, còn tôi sẽ chịu
trách nhiệm nguồn hàng và xuất khẩu từ Thái Lan, bắt đầu với những đơn
hàng nhỏ để thử nghiệm. Sau này, việc hợp tác kinh doanh giữa tôi và
Terry phát triển nhanh hơn dự kiến, đến mức tôi trở thành một trong các
nhà xuất khẩu thực phẩm đóng hộp hàng đầu của Thái Lan.
Sau
khi kết thúc công việc tại San Francisco, tôi đến thành phố San Diego
để gặp ông Bill Peres, Giám đốc nhà máy Van Kemp Seafood, thuộc Tập
đoàn Rallstone Purina, doanh nghiệp lớn thứ ba nước Mỹ trong lĩnh vực
hải sản đóng hộp.
Trong
cuộc gặp lần đó tôi đưa ra các mẫu hàng cá ngừ và cá mòi đóng hộp và
giới thiệu với ông Bill về ngành công nghiệp chế biến thực phẩm đóng
hộp tại Thái Lan. Lúc đó dân Mỹ cũng như giới kinh doanh trong lĩnh vực
này vẫn chưa hề biết Thái Lan đã sản xuất và xuất khẩu các mặt hàng
này.
Theo
thống kê lúc bấy giờ, khối lượng cá ngừ đóng hộp của Thái Lan xuất
sang Mỹ chỉ chiếm 0,2 - 0,3% mặt hàng này tại thị trường Mỹ. Nhà xuất
khẩu chính là Công ty Sarfco, một nhà đầu tư Úc, và công ty Kietfa của
người Thái. Ông Bill tỏ ý rất quan tâm muốn trực tiếp sang Thái Lan để
tìm hiểu và nhận lời mời của tôi sẽ sớm sang thăm các nhà máy chế biến.
Nghe
thế, tôi như mở cờ trong bụng, mường tượng ra các cơ hội nhận được
những hợp đồng lớn và có triển vọng trở thành đối tác của công ty tầm
cỡ này.
Như
vậy cuộc gặp với ông Bill đã kết thúc tốt đẹp, dù tôi chưa đạt được gì
trong tay, ngoại trừ lời hứa sẽ sang thăm Thái Lan. Tôi cũng cảm thấy
rất phấn khởi, tự nhủ rằng mình đang đi đúng hướng, nhất định sẽ đi đến
thành công, trở thành một nhà xuất khẩu cá ngừ đóng hộp lớn vào thị
trường Mỹ.
Việc
lập kế hoạch kỹ càng cho chuyến đi tìm hiểu thị trường Mỹ là rất quan
trọng, vì đây là thị trường khổng lồ, một đất nước rất rộng lớn và giàu
có. Nếu không biết trước địa điểm cần đến mà phải đi mày mò thì sẽ mất
rất nhiều thời gian đi lại và rất tốn kém vì giá thuê khách sạn ở Mỹ
rất đắt. Mỗi khi phải vào khách sạn, tôi có cảm giác bất an khi thử
tính tiền thuê phòng ở Mỹ mỗi đêm bằng bao nhiêu đồng bạt Thái.
Dù
công việc kinh doanh bắt đầu cất cánh nhưng tôi vẫn phải hết sức tiết
kiệm. Sang Mỹ, tôi chỉ mang theo người hơn 2.000 USD, nếu chẳng may
tiêu hết tiền giữa chừng thì tình hình sẽ rất gay go vì tôi không thể
vay mượn ai.
Trên
đường trở về Thái Lan, tôi ngồi trên máy bay nhưng đầu óc không ngừng
suy nghĩ. Tôi tưởng tượng ra các đơn đặt hàng lớn trong tương lai và
vạch ra kế hoạch chuẩn bị đón tiếp ông Bill thật chu đáo, để ông thấy
tôi là một tay “chuyên nghiệp”, mặc dù mặt mũi hãy còn non nớt. Tôi sơ
bộ chia các nhà máy chế biến nơi sẽ bố trí cho ông Bill đến thăm thành
ba loại: Loại A (tốt nhất); Loại B (Khá); và Loại C (bình thường).
Khi
về đến nhà, tôi lao ngay vào việc trao đổi thư từ bằng telex với các
khách hàng ở Mỹ suốt đêm ngày. Ai liên hệ đến là tôi trả lời ngay, bất
kể giờ nào, vì nhà tôi ở và văn phòng vẫn là một.
Sau
khi chờ đợi đến ba tháng, tôi mới nhận được telex của ông Bill Perez
thông báo ông sắp sang Thai Lan. Khi nhận được telex này, tôi rất hồ
hởi, phấn chấn chẳng khác lần nhận được điện thoại của ông Chau đặt mua
50 tấn bột sắn, lô hàng lớn đầu tiên trong đời tôi.
*****
Tôi nghĩ rằng hạt giống mà mình gieo ngày nào giờ đây bắt đầu ra hoa
kết trái, vì nghĩ rằng nếu ký được hợp đồng với Van Kemp Seafood, thì
giá trị của nó sẽ lớn gấp nhiều lần công việc kinh doanh hiện tại của
tôi.
Tôi
lập tức liên hệ lên lịch làm việc trước với các nhà máy Loại A. Mọi
người rất nhiệt tình hưởng ứng và chuẩn bị đón tiếp vì chưa bao giờ có
khách hàng lớn như vậy đến thăm Thái Lan.
Tôi
đến sân bay Don Muong đón ông Bill Perez bằng chiếc Mercedes màu xanh
nước biển của mình, có tài xế riêng. Tôi để ý thấy nét mặt ông Bill thể
hiện sự hài lòng. Có lẽ ông nghĩ rằng tôi thuộc loại khá giả và là một
tay kinh doanh chuyên nghiệp, nên mọi thứ sẽ đâu vào đấy kể từ lúc rời
khỏi sân bay Don Muong.
Tôi
lên kế hoạch đưa ông Bill đi thăm một số nhà máy chế biến cá hộp trong
vòng 3-4 ngày, tùy theo thời gian cho phép của ông, bắt đầu từ nhà máy
Thai Union. Khi đó, nhà máy này đang tăng thêm dây chuyền sản xuất cá
hộp. Khi đến nơi, ông Seng Nirutanond, chủ nhà máy, dẫn chúng tôi đi
tham quan. Đây là một nhà máy nhỏ và thời gian đó họ chỉ sản xuất cá
ngừ với số lượng hạn chế, nhưng sự nhiệt tình đón tiếp chu đáo của chủ
nhà máy, cộng với triển vọng phát triển hợp tác trong tương lai làm cho
ông Bill rất hài lòng.
Sau
đó tôi đưa ông Bill đến thăm nhà máy B&M của một người Đài Loan
mới sang Thái Lan đầu tư không lâu. Nhà máy thứ ba là Unicord, là một
nhà máy lớn mới xây dựng xong, do ông Damri làm chủ. Cuối cùng là nhà
máy Kiêng Huat tại tỉnh Hat yai, có ông Vorasak và bà Charoensri đón
tiếp. Chuyến viếng thăm các nhà máy này giúp ông Bill hiểu được tình
hình sản xuất và thị trường cá hộp tại Thái Lan một cách đáng kể.
Dù
là nước mới bước chân vào ngành sản xuất cá ngừ đóng hộp xuất khẩu
nhưng Thái Lan có nhiều điều kiện thuận lợi để mở rộng sản xuất với quy
mô lớn nhờ nhân công giá rẻ nhưng tay nghề khá, bảo đảm chất lượng sản
phẩm, giá thành cạnh tranh được trên thị trường thế giới.
Tôi
tiễn ông Bill trở về Mỹ với lòng hân hoan trước lời hứa của ông rằng
ông rất quan tâm đến các cơ sở sản xuất cá hộp tại Thái Lan vì sản phẩm
đạt chất lượng tốt, giá rẻ và các nhà máy rất nhiệt tình muốn hợp tác,
nên tương lai ngành cá ngừ đóng hộp của Thái Lan sẽ rất có triển vọng.
Sau khi trở về Mỹ xem xét lại tình hình ông sẽ báo cho tôi biết kế
hoạch hợp tác tiếp theo.
Nhân
đây tôi nói thêm về tình hình khai thác và chế biến cá ngừ của Thái
Lan lúc đó. Lúc đầu, Thái Lan dùng loại cá ngừ đánh bắt ngay trong Vịnh
Thái Lan làm nguyên liệu chính để đóng hộp xuất khẩu, nhưng sau một
vài năm sản lượng đánh bắt không đủ đáp ứng nhu cầu tăng rất nhanh của
thế giới.
Do
vậy, tôi bắt đầu nhập cá ngư tươi từ Indonesia với số lượng 300 tấn
làm nguyên liệu cho nhà máy Thai Union. Kể từ năm 1982 trở đi, cá ngừ
tươi từ các nơi trên thế giới được nhập khẩu ồ ạt vào Thái Lan để làm
nguyên liệu cho các nhà máy chế biến cá ngừ. Chỉ trong vòng 10 năm,
Thái Lan đã trở thành nước sản xuất cá ngừ hộp lớn nhất thế giới.
Trong
khi chờ đợi ông Bill trả lời, tôi tranh thủ viết thư hỏi thăm sức khỏe
ông như một người bạn, vì trong thời gian ông ở thăm Thái Lan, tôi và
ông đã thiết lập được mối quan hệ khá thân tình với nhau.
Đến
tháng thứ tư, tôi nhận được tin ông Bill thông báo ông sắp sangThái
Lan cùng với ông chủ tên là Paul Krampe cùng một nhóm chuyên viên phân
tích, nhưng lần này chỉ đến thăm hai nhà máy Thai Union và Unicord mà
thôi. Khi nhận được tin này, tôi như đánh hơi thấy một gã khổng lồ
trong lĩnh vực cá hộp đang bắt đầu thâm nhập vào Thái Lan như dự đoán
ban đầu của tôi khi đến khảo sát thị trường Mỹ.
Vào
lúc đó, tỷ trọng xuất khẩu cá ngừ hộp từ Thái Lan sang Mỹ đã tăng lên,
nhưng vẫn chưa đầy 0,3% so với khối lượng nhập khẩu của mặt hàng này
tại Mỹ. Cho nên, tôi chỉ nhìn thấy cơ hội rất lớn mà không hề ngờ tới
điều xảy ra sau đó làm tôi phải vỡ mộng.
Tôi
vội vàng liên hệ với ông Seng, chủ nhà máy Thai Union và ông Damri,
chủ nhà máy Unicord để chuẩn bị đón tiếp đoàn. Cả hai nhà máy đều nhiệt
tình hợp tác với tôi như lần trước.
Tôi
bố trí hai xe, chiếc Mercedes của tôi dành đưa đón ông Paul và ông
Bill, tôi ngồi phía trước cùng lái xe; và một chiếc khác tôi thuê dành
cho những người còn lại. Chúng tôi đưa khách đi tham quan hai nhà máy
rất kỹ lưỡng, mỗi nơi mất vài ngày để khách tìm hiểu kỹ càng các công
đoạn sản xuất.
Có
thể nói họ đi vào mọi ngóc ngách dùng các biểu đồ điều tra theo tiêu
chuẩn quốc tế mà tôi chưa nhìn thấy bao giờ. Có thể nói đây là bước đầu
tiên của việc học hỏi để đưa Thái Lan sau đó trở thành nước sản xuất
cá ngừ hộp hàng đầu trên thế giới.
Thậm
chí cả nhà vệ sinh của công nhân họ cũng đến kiểm tra. Nhìn cách họ
làm việc, tôi phải thừa nhận họ là những “tay chuyên nghiệp” đích thực
trong ngành. Tôi còn phải học hỏi rất nhiều từ họ. Trong khi đó Thai
Union mới bắt đầu sản xuất cá ngừ hộp không lâu, với công suất vào
khoảng 5 tấn/ngày.
Hôm
sau, tôi đưa đoàn đi thăm nhà máy Unicord, khi đó mới bắt đầu sản xuất
chế biến hải sản, riêng cá ngừ mới ở giai đoạn thử nghiệm, nhưng dây
chuyền đã lắp đặt sẵn. Ông chủ nhà máy rất hồ hởi, sẵn sàng nhận hợp
đồng sản xuất.
Sau
khi kết thúc chuyến tham quan các nhà máy, tôi đưa họ về Bangkok ăn
tối và hai bên trao đổi ý kiến đánh giá điểm yếu, điểm mạnh của từng
nhà máy, và để đạt được chất lượng theo yêu cầu của Van Kemp Seafood,
thì các nhà máy cần phải có sự hỗ trợ về kỹ thuật và tư vấn nhằm cải
thiện chất lượng, ít ra là trong giai đoạn đầu.
*****
Tối hôm đó tôi trở về nhà ngủ sớm vì mệt rã rời, nhưng trong lòng
tràn ngập niềm vui và hy vọng. Phen này tôi sẽ thành công trong việc
chinh phục thị trường Mỹ. Tôi không hề mường tượng được một kết cục
không như mong đợi.
Sáng
hôm sau tôi đến để tiễn đoàn khách trở về Mỹ tại sân bay Don Muong.
Buổi sáng hôm đó trời đẹp, trong xanh, lòng tôi thì hớn hở hân hoan nên
linh tính dường như cũng ngủ quên nên không thể mách bảo tôi tin dữ
sắp ập đến. Thế rồi thình lình như sét đánh ngang tai, ông Bill gọi tôi
ra để nói chuyện riêng cùng với ông Paul.
Tôi
chẳng muốn nhớ lại lời mào đầu câu chuyện của ông Bill, nhưng tôi nhớ
rất rõ nét mặt căng thẳng của ông ấy khi nói với tôi rằng Van Kemp
Seafood muốn nhập hàng từ Thái Lan với khối lượng lớn, hàng trăm hàng
ngàn con-ten-nơ một năm, nhưng giá thành phải thấp, do đó công ty không
muốn mua qua trung gian… mà sẽ mua trực tiếp của nhà sản xuất.
Nghe
họ nói thế, tôi choáng váng như một võ sĩ quyền anh vừa lãnh cú đấm đo
ván. Tôi hoang mang, lúng túng như gà mắc tóc không hiểu chuyện gì xảy
ra. Sau những ngày gặp gỡ, hợp tác làm việc với nhau rất vui vẻ thân
tình và đầy hứa hẹn, đùng một cái tôi nhận một kết cục như thế này đây.
Tôi băn khoăn suy nghĩ, phải chăng các doanh nhân quốc tế hành xử như
vậy, chẳng lẽ họ nhẫn tâm đến thế, đặc biệt khi họ là những công ty có
tầm cỡ thế giới.
Chính
tôi là người đã cất công sang Mỹ để tìm đến họ và sau đó dẫn dắt họ
sang Thái Lan để tham quan tìm hiểu tình hình thực tế ngay từ khi họ
còn chưa biết gì về Thái Lan. Họ cư xử như vậy là bất công đối với tôi.
Đã thế, Paul còn mở miệng nói rằng: “Dù việc hợp tác bất thành, nhưng
chúng ta vẫn là bạn của nhau.”
Ông
ta còn giải thích rõ rằng ông ta chỉ muốn làm bạn với tôi thôi, còn
làm ăn thì ông ta sẽ đặt hàng trực tiếp với nhà máy Thai Union, vì
trong kinh doanh đòi hỏi phải kiểm soát giá thành xuống mức thấp nhất.
Điều này thì tôi hiểu rõ, nhưng cách làm ăn thiếu trung thực kiểu này
chính là ăn quịt một cách trắng trợn đối tác của mình, chẳng khác hành
vi của bọn cướp của, hại người vô lương tâm.
Tôi
nhìn vào mặt Bill cố gắng giải thích, nhưng mọi chuyện không xoay
chuyển. Bill tỏ ra khó xử, nhưng không làm được gì, vì anh ta chỉ là
cấp dưới của Paul. Tôi nghĩ Bill hiểu rõ suy nghĩ của tôi, vì anh ta là
người cùng với tôi hợp tác trong chuyện này ngay từ ngày đầu tiên khi
tôi đi San Diego để gặp anh ta. Đúng là qua cầu rút ván.
Tôi
không hiểu nổi vì sao một công ty lớn như thế lại đối xử tệ bạc với
một công ty thương mại nhỏ bé như công ty của tôi, chẳng lẽ họ thiếu
đạo đức kinh doanh đến thế? Theo thông lệ trên thương trường, các công
ty thương mại làm môi giới thường được hưởng hoa hồng 2-3% môi giới.
Nhưng tôi đã sẵn sàng giảm xuống mức 1% vì thấy khối lượng hàng lớn,
hoặc thậm chí nếu rút xuống 0,5 % tôi cũng đồng ý.
Tôi
nói với hai người rằng tôi sẵn sàng giảm mức hoa hồng và bảo đảm cho
công việc kinh doanh của họ thành công về lâu dài, nhưng họ từ chối
thẳng thừng. Lúc đó tôi tức giận đến mức nghĩ rằng nếu có súng trong
tay, tôi sẽ bắn gục lão Paul ngay lập tức vì hắn là kẻ vô liêm sỉ.
Tôi
trở về nhà trong tình trạng suy sụp hoàn toàn, một phần vì nhiều ngày
qua tôi làm việc vất vả để đón tiếp họ, nhưng cái chính là do bị cú sốc
bất ngờ trong cuộc nói chuyện buổi sáng tại sân bay. Tôi vẫn còn trong
tình trạng choáng váng, bần thần thêm mấy ngày sau đó. Tôi cố gắng suy
nghĩ theo hướng tích cực nhưng vẫn không có kết quả.
Trong
tâm trạng băn khoăn thắc mắc khôn nguôi, tôi chợt hiểu ra rằng: trên
đời này đầy rẫy những kẻ kinh doanh bất nhẫn, chỉ chạy theo lợi nhuận
cao nhất mà không thèm đếm xỉa đến sự công bằng hay chính trực… Họ thật
bất công đối với những công ty nhỏ bé, mới ra đời như công ty của tôi.
Chính tôi là người đã khởi xướng, dẫn dắt họ sang Thái Lan làm ăn, mà
nhờ đó sau 5 năm Thái Lan trở thành cơ sở sản xuất cá ngừ đóng hộp lớn
nhất của Tập đoàn Van Kemp Seafood.
Điều
trước tiên tôi suy nghĩ là làm sao vạch ra kế hoạch tiếp tục chiến đấu
từ đây… và điều thứ hai là cách xử lý với Paul, kẻ đã làm tôi mất
thăng bằng trong cuộc sống… Mối hận này chắc chắn tôi sẽ ôm trong lòng
nhiều năm tới… Tuy vậy, tôi không bao giờ quên bài học cay đắng này và
không ngừng theo dõi tin tức hoạt động của Paul.
Sau
này tôi được biết kết cục Paul gặp chuyện chẳng lành. Sau đó vài năm,
ông ta bị đuổi khỏi Tập đoàn Van Kemp Seafood… Bạn thấy đấy, đúng là
“ác giả ác báo” diễn ra ngay ở kiếp đời này chứ chẳng phải chờ đến kiếp
sau. Ai gieo gió ắt sẽ gặt bão, ai gây oán sẽ bị báo oán , chỉ có điều
nó đến sớm hay muộn mà thôi.
Sau
đó ông Seng, từ Thai Union, báo cho tôi biết rằng ông đã nhận được đơn
đặt hàng của công ty Chicken of the Sea, và ông trả tiền hoa hồng cho
tôi 200.000 bạt do công sức và chi phí tôi đã bỏ ra tìm kiếm khách hàng
cho ông, dù nó không thấm gì so với lợi nhuận mà ông thu được do công
suất đã tăng từ 5 tấn/ngày lên 50 tấn và sau đó lên 700-800 tấn/ngày,
nhưng dù sao nó cũng cho thấy ông là người có lòng tốt.
Có
thể nói đây là điểm xuất phát để Thái Lan trở thành một trong những
nước sản xuất cá ngừ đóng hộp hàng đầu trên thế giới, chỉ sau Mỹ, vì
sau đó không lâu nhiều tập đoàn cá ngừ khổng lồ trên thế giới đã lũ
lượt kéo vào Thái Lan, biến Thái Lan thành một trung tâm sản xuất và
xuất khẩu cá ngừ đóng hộp của thế giới.
Sau
khi Thai Union làm ăn với Van Kemp Seafood được trên 10 năm, kể từ
ngày tôi cùng hợp tác tham gia, công ty này không ngừng phát triển và
trở thành một nhà sản xuất cá ngừ hộp hàng đầu thế giới. Khi Van Kemp
Seafood đặt mua sản phẩm của Thai Union, họ đã giúp Thai Union nâng cấp
trang thiết bị, cử chuyên gia sang giúp cải tiến quy trình sản xuất,
kiểm tra chất lượng sản phẩm… nên chẳng mấy chốc Thai Union đã sản xuất
được sản phẩm đạt chất lượng quốc tế. Cuối cùng,Thai Union đã mua lại
toàn bộ thương hiệu của Van KempSeafood, nghĩa là chuyển đổi quốc tịch
từ công ty của Mỹ thành công ty của Thái Lan.
Về
phần cá nhân tôi, dù bị cướp mất khoản hoa hồng lớn trong thương vụ
đó, tính ra phải hàng tỷ bạt trong nhiều năm sau đó, nhưng khi nghĩ đến
sự thành công to lớn của ngành công nghiệp cá ngừ đóng hộp Thái Lan,
từ con số không đã trở thành trung tâm sản xuất cá ngừ và xuất khẩu lớn
nhất vào thị trường Mỹ, chiếm tới 80% lượng cá ngừ đóng hộp nhập khẩu
vào Mỹ, thì tôi không còn thấy tức tối và oán hận nữa.
Ngược
lại, tôi cảm thấy tự hào vì dù sao mình cũng có phần đóng góp vào sự
thành công này của đất nước. Dù tôi không nhận được tiền hoa hồng xứng
đáng, nhưng nhiều người Thái Lan khác đã được hưởng lợi từ chuyến đi
San Diego năm ấy của tôi.
VIKROM KROMADIT

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét